Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật - Phần 1

Tóm tắt Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật - Phần 1: ...tắc thừa kế. 19 Với việc tập trung quyền lực tối cao của nhà nước một phần hay toàn bộ vào trong tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc truyền ngôi mà chính thể quân chủ có hai biến dạng: quân chủ tuyệt đối và quân chủ hạn chế. Ở các quốc gia có hình thức chính thể quân chủ tuyệt đối,...ẫn là công cụ thực hiện chuyên chính tư sản. Tuy nhiên, đánh giá bản chất của nhà nước tư sản cần phải xem xét nó trong tiến trình lịch sử cụ thể, khách quan của từng giai đoạn phát triển. II. CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC TƯ SẢN Bản chất của nhà nước tư sản thể hiện thông qua các chức năng đối nội v... hiện bước chuyển tiếp từ cách mạng dân chủ nhân dân sang cách mạng xã hội chủ nghĩa. - Trong tất cả các nước đều tồn tại hình thức mặt trận đoàn kết dân tộc với sự tham gia rộng rãi của các đảng phái chính trị và tổ chức quần chúng, đặt dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản các nước. Mặt trận giữ...

pdf65 trang | Chia sẻ: havih72 | Ngày: 11/09/2021 | Lượt xem: 16 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật - Phần 1, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 xã hội và nhà nước.
Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là toàn bộ các thiết chế chính trị gắn bó hữu 
cơ, tác động lẫn nhau cùng thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân dưới sự lãnh đạo 
của Đảng cộng sản.
Khi xem xét, nghiên cứu về hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, cần phải xem xét 
dưới hai bình diện:
- Về hình thức, nó là hệ thống các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội 
hoạt động trong chế độ xã hội chủ nghĩa với những hình thức và chức năng nhất định.
- Về nội dung, là cách thức tổ chức các quan hệ chính trị trong xã hội xã hội chủ 
nghĩa, là cơ chế thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao 
động.
Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa thể hiện những đặc điểm, bản chất và quy luật 
hình thành và phát triển của chế độ chính trị mới. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa 
hoạt động với tư cách là một hệ thống thống nhất các thiết chế và quan hệ chính trị.
Ở nước ta, hệ thống chính trị ra đời sau thành công của Cách mạng tháng Tám 
cùng với sự thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân. Cùng với quá trình xây dựng và phát 
triển của chế độ mới qua các giai đoạn lịch sử, Hệ thống chính trị của nước ta ngày càng 
trở nên hoàn thiện. Mục tiêu của Hệ thống chính trị nước ta là hướng tới việc xây dựng 
một xã hội giàu mạnh, văn minh, phát huy rộng rãi quyền con người.
Hiện nay, xét về mặt cấu trúc Hệ thống chính trị nước ta gồm có các bộ phận cấu 
thành sau: Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt 
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính tri, xã hội như: Liên đoàn lao động Việt 
Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niện cộng sản 
Hồ Chí Minh...
Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam có những đặc trưng cơ bản sau:
- Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chặt chặt chẽ, có tính 
thống nhất nội tại cao, điều này được thể hiện ở chỗ mỗi một thành viên trong Hệ thống 
chính trị của nước ta đều được phân định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ. Tính tổ chức 
cao của hệ thống chính trị nước ta được đảm bảo bởi các nguyên tắc chỉ đạo như: Tất cả 
quyền lực thuộc về nhân dân, nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, tập 
trung dân chủ và pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam có sự thống nhất về lợi ích lâu dài 
và mục tiêu. Tính thống nhất này bắt nguồn từ sự thống nhất về kinh tế, chính trị và tư 
tưởng trong xã hội nước ta. Các thiết chế trong Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việt 
59
Nam tuy có vị trí, vai trò và chức năng khác nhau nhưng đều hướng tới mục đích phục vụ 
lợi ích của nhân dân.
- Hệ thống chính trị nước ta có tính dân chủ rộng rãi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa 
vừa là mục tiêu, động lực, vừa là phương thức để tổ chức, vận hành hệ thống chính trị. 
Các thiết chế cấu thành Hệ thống chính trị đều là các thể chế của nền dân chủ xã hội chủ 
nghĩa. Các tổ chức này được lập ra nhằm thực hiện và bảo đảm các lợi ích, nhu cầu của 
giai cấp công nhân và nhân dân lao động; các tổ chức trên đều được tổ chức và vận hành 
trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ, nhằm bảo đảm tính tập trung, thống nhất, vừa 
tạo điều kiện cho các bộ phận của tổ chức đó phát huy tính chủ động, sáng tạo trong giải 
quyết các công việc thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Mối quan hệ giữa các thiết chế 
là mói quan hệ bình đẳng. Mọi vấn đề nảy sinh trong quá trình vận hành của Hệ thống 
trong đời sống xã hội được giải quyết theo một cơ chế dân chủ.
II.VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ 
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 
Nhà nước xã hội chủ nghĩa giữ vị trí trung tâm, đặc biệt quan trọng trong Hệ 
thống chính trị, vị trí, vai trò của nhà nước không có một thiết chế nào có thể thay thế. 
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là biểu hiện tập trung của quyền lực nhân dân và là thiết chế 
hữu hiệu nhất để thực hiện quyền lực này.
Sở dĩ Nhà nước xã hội chủ nghĩa có được vị trí này là vì:
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa là người đại diện chính thức của các giai cấp và tầng 
lớp trong xã hội. Chính điều này làm cho nhà nước có một cơ sở xã hội rộng rãi nhất để 
có thể triển khai một cách nhanh chóng và hữu hiệu những quyết định và chính sách của 
mình.
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa là chủ thể của quyền lực chính trị, có một bộ máy 
đặc biệt để quản lý xã hội và thực hiện sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, điều này đảm 
bảo cho nhà nước hoạt động có hiệu quả cao.
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa là thiết chế chính trị mang chủ quyền quốc gia. Chủ 
quyền quốc gia là thuộc tính pháp lý riêng có của nhà nước. Biểu hiện cao nhất của thuộc 
tính này là quyền tự quyết, chỉ có nhà nước mới có quyền thay mặt nhân dân quyết định 
các công việc đối nội và đối ngoại của đất nước; chỉ có nhà nước mới trở thành chủ thể 
độc lập trong quan hệ quốc tế, trở thành thành viên chính thức của các tổ chức quốc tế.
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa là chủ thể duy nhất trong hệ thống chính trị có quyền 
ban hành pháp luật - hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung. Nhà nước 
không chỉ dừng lại ở việc ban hành pháp luật mà còn sử dụng pháp luật để quản lý quá 
trình xã hội. Thông qua pháp luật, nhà nước triển khai các chủ trương, chính sách của 
mình một cách rộng khắp trên quy mô toàn quốc.
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa là chủ sở hữu đại diện đối với các tư liệu sản xuất 
quan trọng của xã hội. Thông qua việc nắm giữ các cơ sở vật chất này, nhà nước thực 
hiện được sự điều tiết vỹ mô đối với nền kinh tế, bảo đảm định hướng phát triển cho nền 
kinh tế nhằm mục đích phục vụ nhân dân. Mặt khác, nhờ nắm trong tay nguồn lực vật 
chất này, nhà nước có được các phương tiện vật chất để vân hành hoạt động của toàn bộ 
bộ máy nhà nước và bảo đảm cho các tổ chức chính trị xã hội hoạt động.
Tất cả những ưu thế trên là ưu thế riêng có của nhà nước xã hội chủ nghĩa mà 
không có một thiết chế chính trị nào khác có thể có được. Chính điều này đã quy định vị 
trí, vai trò trung tâm của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
60
III. ĐẢNG CỘNG SẢN TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, đảng cộng sản luôn giữ vai trò lãnh 
đạo. Với bản chất là đội tiên phong của giai cấp công nhân, các đảng cộng sản luôn trung 
thành với mục tiêu, lợi ích lâu dài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Mặt 
khác, các đảng cộng sản có phương pháp luận đúng đắn trong nhận thức và hoạt động của 
mình là Học thuyết Mác - Lê Nin. Chính những ưu thế này đã quy định vai trò của các 
Đảng cộng sản trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.
Hệ thống chính trị Việt Nam theo chế độ nhất nguyên chính trị vì thế không tồn 
tại các đảng phái đối lập. Lịch sử Việt Nam qua các giai đoạn phát triển cách mạng luôn 
gắn với vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng 
minh khả năng lãnh đạo to lớn của Đảng cộng sản Việt Nam. Vai trò lãnh đạo của Đảng 
cộng sản Việt Nam được ghi nhận tại Điều 4 - Hiến pháp năm 1992: “ Đảng cộng sản 
Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền 
lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - 
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.
Sở dĩ Đảng cộng sản Việt Nam có vai trò lãnh đạo đối với các tổ chức trong hệ 
thống chính trị bởi vì:
Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam gồm những người tiên tiến được vũ trang bởi 
thế giới quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trên cơ sở của 
học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phân tích một cách khoa học, khách 
quan điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta, Đảng có khả năng vạch ra đường lối, chính 
sách đúng đắn và tổ chức thực hiện có hiệu quả những chính sách, đường lối ấy trong 
thực tiễn.
Thứ hai, Đảng cộng sản Việt Nam là tổ chức được Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nhà 
lãnh đạo thiên tài của cách mạng Việt Nam trực tiếp sáng lập và rèn luyện. Tư tưởng của 
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một bộ phận hợp thành quan trọng trong kho tàng tri thức lý 
luận của Đảng. Tư tưởng của Người là một di sản quý báu về lý luận cách mạng mà ngày 
nay Đảng ta được kế thừa và phát huy.
Thứ ba, Đảng cộng sản là lực lượng có khả năng tổ chức, tập hợp to lớn. Bằng 
khả năng và uy tín của mình, Đảng có thể huy động, tập hợp nhân dân thực hiện các mục 
tiêu, đường lối mà Đảng đã đề ra. Khả năng tổ chức và lãnh đạo của Đảng đã được kiểm 
nghiệm trong thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam.
Thứ tư, Đảng cộng sản Việt Nam luôn kiên định với mục tiêu đấu tranh vì sự 
nghiệp hoà bình, ủng hộ các phong trào giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh của giai 
cấp công nhân tiến bộ trên thế giới. Điều này đã tạo ra uy tín quốc tế rộng lớn của Đảng 
ta, điều này giúp cho Đảng nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các chính đảng từ phía 
phong trào cộng sản và công nhân trên quốc tế, điều này góp phần củng cố vai trò, vị trí 
lãnh đạo của Đảng trong nước.
Đảng cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo của mình dưới các hình thức và 
phương pháp sau:
- Đảng hoạch địch đường lối, chính sách chủ trương lớn mang tính chiến lược 
định hướng cho hoạt động của Nhà nước và xã hội trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. 
Hiện nay, Đảng ta đang dành sự quan tâm cho việc xác định các nguyên tắc cơ bản, định 
ra những phương hướng để lãnh đạo Nhà nước xây dựng thành công Nhà nước pháp 
quyền Việt nam xã hội chủ nghĩa.
61
- Đảng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ có phẩm chất, năng lực để giới thiệu 
vào các vị trí quan trọng của Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội thông qua con đường 
bầu cử dân chủ. Việc giới thiệu của Đảng không mang tính áp đặt đối với các cơ quan 
nhà nước.
- Đảng tiến hành kiểm tra hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính 
trị - xã hội trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng. Thông qua công tác 
kiểm tra, giám sát, Đảng kịp thời phát hiện những thiếu sót trong hoạt động quản lý nhà 
nước, những sai lầm trong đường lối, chủ trương, chính sách của mình, kịp thời đưa ra 
những biện pháp khắc phục. Công tác kiểm tra của Đảng được thực hiện theo những 
nguyên tắc của tổ chức Đảng, trên cơ sở chức năng, quyền hạn và tính độc lập của các cơ 
quan nhà nước.
- Các tổ chức cơ sở đảng, các đảng viên gương mẫu trong việc thực hiện đường 
lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đây là một trong những biểu hiện 
quan trọng để lôi cuốn, thu hút nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương chính sách 
của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với các thiết chế khác trong hệ thống 
chính trị bằng những phương pháp nhất định. Khác với phương pháp quản lý nhà nước, 
phương pháp lãnh đạo của Đảng không sử dụng biện pháp cưỡng chế. Phương pháp lãnh 
đạo của Đảng dựa trên cơ sở của sự thuyết phục, giáo dục, thông qua các hoạt động tuyên 
truyền sâu rộng đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng tới các tầng lớp nhân dân, từ 
đó để nhân dân nhận thức đúng đắn đường lối, chính sách, chủ trương của đảng, tự giác 
thực hiện trên thực tế cuộc sống.
IV. CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
Ở nước ta, nhân dân thực hiện quyền lực chính trị của mình không chỉ bằng Nhà 
nước, mà còn thông qua các tổ chức xã hội. Các tổ chức xã hội đóng vai trò quan trọng 
trong quá trình thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Địa vị pháp lý của các tổ chức xã 
hội được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật và các văn bản quy phạm pháp luật.
Các tổ chức xã hội ở nước ta hiện nay rất phong phú và ngày càng có nhiều tổ 
chức mới được thành lập. Đóng vai trò quan trọng trong hệ thống các tổ chức xã hội là 
các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm: Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao 
động Việt Nam, Đoàn thanh niện cộng sản Hồ Chí Minh, Hội nông dân Việt Nam, Hội 
liên hiệp phụ nữ Việt Nam và các đoàn thể nhân dân...
Các tổ chức xã hội có những đặc điểm cơ bản sau:
- Được hình thành trên cơ sở của nguyên tắc tự nguyện, hoạt động theo điều lệ 
nhằm thoả mãn lợi ích của các thành viên.
- Các tổ chức hoạt động bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục và các biện 
pháp tác động xã hội, không áp dụng biện pháp cưỡng chế nhà nước.
- Các quyết định của các tổ chức chỉ có hiệu lực tác động tới các thành viên của tổ 
chức mình, không có hiệu lực đối với những người ở ngoài tổ chức đó.
- Tài sản của các tổ chức xã hội hình thành từ sự đóng góp của các thành viên, do 
tự tổ chức kinh doanh, do sự tài trợ của các tổ chức khác, kể cả tổ chức quốc tế, Nhà 
nước chỉ tài trợ một phần.
- Các tổ chức tham gia vào việc quyết định những vấn đề chính trị quan trọng của 
đất nước, tham gia vào các lĩnh vực quản lý nhà nước ở các mức độ khác nhau.
62
Ngoài các đặc điểm chung như trên, mỗi tổ chức xã hội căn cứ vào chức năng, 
nhiệm vụ của mình, vào phạm vi hoạt động và vị trí của mình trong hệ thống chính trị 
còn có những đặc điểm riêng, cụ thể:
a. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Mặt trận là liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị, các 
tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.
Mặt trận là tổ chức có tính chất yêu nước, có nhiệm vụ củng cố khối đoàn kết toàn 
dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong xã hội, động viên toàn dân xây 
dựng đất nước. 
Mặt trận đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bộ máy nhà nước, trên cơ 
sở nguyên tắc hiệp thương, thông qua việc hiệp thương trong bầu cử, mặt trận góp phần 
hình thành nên hệ thống cơ quan dân cử.
b. Tổng liên đoàn lao động Việt Nam
Tổng liên đoàn lao động Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị 
nước ta. Là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, cán bộ, viên chức, 
là trường học thực tế, là trường quản lý kinh tế, quản lý nhà nước của giai cấp công nhân 
và người lao động Việt Nam. Tổng liên đoàn lao động Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ 
với Nhà nước và các tổ chức xã hội khác trong hệ thống chính trị. Các tổ chức của Tổng 
liên đoàn phối hợp với các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng các chủ trương, kế 
hoạch kinh tế - xã hội và trực tiếp tham gia thực hiện các chủ trương kế hoạch.
Tổng liên đoàn quan tâm đến đời sống vật chất của các thành viên thuộc tổ chức 
mình, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên.
c. Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức đoàn kết rộng rãi của các tầng lớp phụ 
nữ nước ta. Hội có nhiệm vụ giáo dục các thành viên của Hội hiểu rõ trách nhiệm của 
người phụ nữ đối với đất nước. Bên cạnh đó, Hội góp phần hình thành ở phụ nữ tinh thần 
phấn đấu vươn lên trong mọi lĩnh vực công tác xã hội.
Hội còn là tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, là tổ chức hoạt 
động với mục đích nâng cao mức sống cho phụ nữ, góp phần tạo lập sự bình đẳng về 
giới.
d. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Đoàn thành niên cộng sản Hồ Chí Minh là tầng lớp rộng rãi của tầng lớp thanh 
niên, là nơi rèn luyện và giáo dục thế hệ trẻ. Đoàn là lực lượng năng động, nhiệt tình, 
luôn đi đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
e. Hội nông dân Việt Nam
Hội nông dân Việt Nam là tổ chức đại diện cho giai cấp nông dân nước ta. Hội có 
nhiệm vụ giáo dục, nâng cao ý thức và năng lực là chủ cho giai cấp nông dân, động viên 
nông dân tham gia tích cực vào các hoạt động kinh tế, tham gia quản lý nhà nước và xã 
hội.
V. VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG GIAI ĐOẠN 
HIỆN NAY
Trong công cuộc CNH - HĐH đất nước hiện nay, để xây dựng thành công một xã 
hội nhân đạo, công bằng, bình đẳng, tất cả vì giá trị của con người, bên cạnh công cuộc 
cải cách bộ máy nhà nước còn cần thiết phải tiến hành đổi mới hệ thống chính trị.
63
Vấn đề đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị chiếm vai trò quan trọng trong 
toàn bộ sự nghiệp đổi mới. Đổi mới hệ thống chính trị đòi hỏi phải được tiến hành từ việc 
đổi mới từng thiết chế trong hệ thống, vì thế Văn kiện đại đội Đảng cộng sản Việt Nam lầ 
thứ IX đã xác định: “ Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và tiếp tục đổi mới phương 
thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ”[1], “Kiện toàn hệ thống tổ chức đảng gắn với 
cải cách, đổi mới tổ chức, bộ máy của các cơ quan nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã 
hội”.[21]
Đổi mới hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta phải được tiến hành trên cơ 
sở của những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, việc đổi mới hệ thống chính trị không làm mất ổn định chính trị.
Thứ hai, đổi mới hệ thống chính trị nhằm xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, 
mở rộng dân chủ cho nhân dân lao động.
Trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản trên, hoạt động đổi mới hệ thống chính trị xã 
hội chủ nghĩa tiến hành trên các hướng cơ bản sau:
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với vấn đề 
đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Để lãnh đạo thắng lợi 
công cuộc đổi mới, trước tiên, đòi hỏi Đảng phải tự đổi mới, chỉnh đốn đảng, đổi mới nội 
dung, phương pháp lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn thể hệ thống chính trị. 
Để công cuộc đổi mới Đảng thu được thành công, Đảng cần phải khắc phục những yếu 
kém và khuyết điểm như trong Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX đã 
chỉ ra: “chưa ngăn chặn và đẩy lùi được sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối 
sống. Một số tổ chức đảng ở các cấp chưa được chỉnh đốn; dân chủ bị vi phạm, kỷ luật, 
kỷ cương lỏng lẻo, nội bộ không đoàn kết; chất lượng sinh hoạt đảng giảm sút. Công tác 
lý luận, công tác tư tưởng còn yếu kém, bất cập; công tác tổ chức, cán bộ còn một số biểu 
hiện trì trệ”.[1]Để khắc phục những yếu kém đã nêu ở trên Đảng cần hoàn thiện phương 
thức lãnh đạo của Đảng, kiện toàn các tổ chức đảng, xây dựng, củng cố các tổ chức cơ sở 
đảng, tăng cường công tác giáo dục chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ 
nghĩa cá nhân, cơ hội. Cần thiết phải phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng và chức 
năng quản lý của Nhà nước; xác định rõ Đảng không quản lý thay Nhà nước nhưng có 
quyền can thiệp vào công việc của Nhà nước thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát việc 
thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng từ phía Nhà nước.
- Tăng cường hiệu quả công tác quản lý của Nhà nước là một vấn đề không kém 
phần quan trọng trong hoạt động đổi mới hệ thống chính trị, bởi Nhà nước giữ vị trí trung 
tâm trong hệ thống chính trị. Nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước chúng ta cần 
phải xây dựng nhà nước Pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo hướng: “Quyền lực 
nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong 
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng 
pháp luật ”[2]
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên với vai trò là cơ sở chính 
trị của chính quyền nhân dân cũng phải được tiếp tục đổi mới để góp phần thực hiện nền 
dân chủ, bảo vệ lợi ích của nhân dân, góp sức xây dựng Nhà nước trong sạch, vững 
[1] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà 
Nội 2001, tr.144
[2]Sách đã dẫn, tr. 145
1
[1] Sách đã dẫn, tr. 138
[2] Sách đã dẫn, tr 132
64
mạnh. Để làm được điều đó, các tổ chức cần mở rộng và đa dạng hoá các hình thức tập 
hợp nhân dân tham gia vào các tổ chức, đoàn thể . Tiếp tục đổi mới hình thức hoạt động, 
tránh tình trạng hành chính hoá, phô trương, hình thức, quan liêu, xa dân. Cần thiết lập 
quan hệ chặt chẽ giữa các tổ chức với Đảng và Nhà nước; Nhà nước phải thể chế rõ hơn 
quyền hạn, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân trong việc tham gia 
quản lý kinh tế, quản lý xã hội, phối hợp chặt chẽ và hiệu quả hoạt động của các đoàn thể 
với nhau và với cơ quan nhà nước.
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Phân tích khái niệm hệ thống chính trị.
2. Trình bày vị trí, vai trò của Nhà nước rong hệ thống chính trị.
3. Trình bày vị trí, vai trò của đảng cộng sản trong hệ thống chính trị.
4. Trình bày vị trí, vai trò của tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị.
5. Phân tích yêu cầu của việc đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay.
65

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_ly_luan_ve_nha_nuoc_va_phap_luat_phan_1.pdf