Nghiên cứu thực nghiệm một số tính chất của bê tông sử dụng cát biển

Tóm tắt Nghiên cứu thực nghiệm một số tính chất của bê tông sử dụng cát biển: ... chế, đặc biệt là đối với CB ở Việt Nam. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm cường độ chịu nén, cường độ chịu kéo uốn của bê tông sử dụng CB2 và CB7. Kết quả nghiên cứu đối với CB được so sánh với BTCS có cấp phối tương ứng. 2. Vật liệu và phương pháp 2.1 Vật liệu sử d... biểu đồ phát triển cường độ của các nhóm cấp phối qua các ngày tuổi khác nhau. Có thể thấy, trong giai đoạn từ 3 đến 7 ngày đầu tốc độ phát triển cường độ của các nhóm mẫu khác nhau nhưng giai đoạn từ 7 đến 28 ngày tuổi, lượng gia tăng cường độ của các nhóm mẫu bê tông là tương đồng nha...ằng dòng chảy sông (CB7), hàm lượng clorua trong cát giảm đến ngưỡng cho phép để không ảnh hưởng đến bê tông. Tuy nhiên, qua quan sát bằng mắt thường có thể thấy, trong CB xử lý bằng dòng chảy sông có lượng tạp chất (như bùn, sét) bám dính tương đối nhiều. Do đó, các mẫu sử dụng CB7 (M20...

pdf8 trang | Chia sẻ: Tài Phú | Ngày: 19/02/2024 | Lượt xem: 30 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Nghiên cứu thực nghiệm một số tính chất của bê tông sử dụng cát biển, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 đặt trong bê tông [13]. Do đó, để đảm 
bảo độ bền cho bê tông và kết cấu bê tông cốt thép, 
cần thiết phải giảm hàm lượng các ion gây hại và 
VẬT LIỆU XÂY DỰNG - MÔI TRƯỜNG 
Tạp chí KHCN Xây dựng - số 1/2021 63 
các tạp chất có trong CB đến ngưỡng an toàn. 
Trong nước, nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành 
nghiên cứu sử dụng CB cho bê tông. Nguyễn 
Khánh Sơn và Nguyễn Quang Thiết [17] sử dụng 
cát ở mép biển Vũng Tàu trộn với đá nghiền để làm 
cốt liệu cho vữa và bê tông từ xi măng bền sunphat. 
CB sử dụng có mô đun độ lớn 1.1, hàm lượng Cl
-
và SO3
2-
 tương ứng là 0.798% và 0.239%. Kết quả 
nghiên cứu của các tác giả cho thấy, quá trình phát 
triển cường độ của vữa xi măng sử dụng CB chưa 
đạt yêu cầu và thấp hơn mẫu đối chứng, còn đối với 
bê tông, cường độ của BTCB và mẫu đối chứng 
chênh nhau không nhiều. Gần đây, kết quả nghiên 
cứu cường độ chịu nén của bê tông sử dụng CB 
Phú Quốc thay thế một phần CS trong các điều kiện 
bảo dưỡng khác nhau của các tác giả Trần Ngọc 
Thanh và cộng sự [18] cho thấy, khi thay thế toàn 
bộ CS bằng CB thì cường độ chịu nén của bê tông 
có thể tăng đến 35%, ngoài ra mẫu BTCB bảo 
dưỡng trong nước ngọt có cường độ chịu nén cao 
hơn trường hợp bảo dưỡng trong nước mặn từ 2% 
đến 34%. 
Việc sử dụng CB để thay thế CS cho bê tông 
cũng nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa 
học trên thế giới. Sampath và Mohankumar [16] kết 
luận rằng, sau hai lần rửa trôi, hàm lượng các ion 
gây hại đã giảm xuống ngưỡng an toàn cho bê 
tông. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của nhiều 
nhà khoa học trên thế giới cho thấy, thành phần hạt 
và hàm lượng các ion gây hại trong CB ở các khu 
vực và các vùng khác nhau dao động trong phạm vi 
rộng. Kết quả nghiên cứu tổng quan về bê tông sử 
dụng CB của Nishida và cộng sự [14] cho thấy, 
phần lớn các nghiên cứu về BTCB kết luận ưu điểm 
của loại cốt liệu này. Katano và cộng sự [12] kết 
luận rằng, cường độ chịu nén của bê tông sử dụng 
CB ở 7 ngày tuổi lớn hơn 60% so với bê tông sử 
dụng CS. Theo thời gian, tỉ lệ tăng cường độ của 
BTCB so với BTCS giảm xuống. Trái ngược với kết 
luận của Katano, Deepak và Naidu [7] chỉ ra rằng, 
cường độ của BTCB giảm 50% so với BTCS. 
Để giảm các hàm lượng ion gây hại cho bê tông 
và các tạp chất có trong CB, nhiều nhà nghiên cứu 
đề xuất nhiều phương pháp như: rửa trôi bằng 
nước nóng; rửa trôi bằng hoá chất; rửa trôi bằng 
nước thường; rửa trôi bằng nước mưa [9, 19]. 
Gầy đây, Kartheek Thunga và T. Venkat Das [19] 
nghiên cứu cường độ chịu nén và kéo của bê tông 
sử dụng CB và bê tông CB qua xử lý rửa trôi để 
thay thế một phần hoặc hoàn toàn CS. Kết quả 
nghiên cứu của các tác giả cho thấy, khi thay thế 
CS bằng CB và CB qua xử lý đều làm tăng cường 
độ chịu nén và kéo của bê tông. Đặc biệt, tỉ lệ tăng 
cường độ của bê tông sử dụng 100% CB so với 
BTCS là lớn nhất. 
Kết quả phân tích tổng quan cho thấy, CB là vật 
liệu tiềm năng để thay thế CS cho bê tông. Tuy 
nhiên, hiện nay cơ sở dữ liệu nghiên cứu về vấn đề 
này vẫn còn hạn chế, đặc biệt là đối với CB ở Việt 
Nam. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu thực 
nghiệm cường độ chịu nén, cường độ chịu kéo uốn 
của bê tông sử dụng CB2 và CB7. Kết quả nghiên 
cứu đối với CB được so sánh với BTCS có cấp phối 
tương ứng. 
2. Vật liệu và phương pháp 
2.1 Vật liệu sử dụng 
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng các loại 
vật liệu sau: 
Xi măng: Kaito PCB40; 
Cát sông: được khai thác ở nguồn sông Ba, 
thành phần hạt của CS theo TCVN 7572-2:2006 [3] 
được thể hiện trong bảng 1; 
Đá dăm: có Dmax=20 mm được khai thác tại các 
mỏ đá trên địa bàn tỉnh Phú Yên; 
Nước: từ giếng khoan; 
Cát biển: mẫu CB sử dụng trong nghiên cứu 
này được khai thác tại bờ biển Tp. Tuy Hoà, tỉnh 
Phú Yên. Vị trí lấy mẫu CB: dưới nước, cách mép 
nước 1 mét và ở độ sâu từ 0.2 mét. Kết quả phân 
tích thành phần hạt của CB theo TCVN 7572-2:2006 
[3] được thể hiện trong bảng 1. Trong nghiên cứu 
này, CB được sử dụng 03 dạng sau: 
- Cát biển nguyên thuỷ, cát biển sau khi thu thập 
được xử lý sơ bộ để loại bỏ những tạp chất có thể 
như vỏ sò, rác; 
- Cát biển rửa trôi 2 lần bằng nước nóng 90
0
C. 
Quy trình mỗi mẻ rửa cát biển như sau: cát biển 
được thu thập và xử lý sơ bộ và phơi khô, sau đó 
trộn 10 kg cát biển với nước nóng 90
 0
C theo tỉ lệ 
1:2 và khuấy bằng máy trộn sơn cầm tay (Makita 
UT2204) trong thời gian 5 phút sau đó đổ nước rửa 
lần 1 và tiến hành rửa lần 2; 
- Cát biển được rửa trôi bằng cách tận dụng 
dòng chảy sông Ba trong 7 ngày đêm để giảm 
VẬT LIỆU XÂY DỰNG - MÔI TRƯỜNG 
64 Tạp chí KHCN Xây dựng - số 1/2021 
hàm lượng clorua đến mức cho phép đối với bê 
tông). Theo đó, cát biển được đóng thành từng 
bao nhỏ với khối lượng 30 kg và ngâm trong dòng 
chảy sông Ba cách mép bờ 2 mét và cách cửa 
biển 2km, thời gian rửa vào tháng 3 (mùa khô) và 
vận tốc dòng chảy sông ước tính 0.6 m/s. 
Kết quả phân tích hàm lượng clorua trong CB 
theo TCVN 7572-15:2006 [5] được thể hiện trong 
bảng 2. 
Qua kết quả lượng sót tích lũy trên sàng của CS 
và CB (bảng 1) có thể phân loại cả hai loại cát trên 
đều thuộc cát thô, đồng thời kết quả thí nghiệm 
thành phần hạt của CS và CB nhận thấy thành phần 
hạt của hai vật liệu trên là khá tương đồng và đáp 
ứng yêu cầu kỹ thuật đối với cát cho bê tông. Ngoài 
ra, từ kết quả phân tích theo TCVN 7572-4: 2006 [4] 
nhận được khối lượng thể tích của CS và CB tương 
ứng là 1510g/lít và 1457g/lít. 
Bảng 1. Thành phần hạt của cát sông và CB [3] 
Kích thước lỗ sàng, mm 
Lượng sót tích lũy trên sàng, % khối lượng 
CS CB 
2.5 4.88-5.43 10.45-11.8 
1.25 31.21-32.05 30.75-32.55 
0.63 74.65-77.15 58.15-59.65 
0.315 94.89-97.1 80.3-80.7 
0.14 98.15-99.05 90.38-90.43 
Lượng qua sàng 0.14 ≤10 ≤10 
Phân loại cát Cát thô Cát thô 
Môđun độ lớn 2.88 2.74 
Bảng 2. Hàm lượng clorua trong CB và CB đã qua xử lý bằng phương pháp rửa trôi 
Dạng CB Nguyên thuỷ (CB) 
Rửa trôi 2 lần bằng nước 
nóng 90
0
C (CB2) 
Rửa trôi bằng dòng chảy sông 
Ba trong 7 ngày đêm (CB7) 
Hàm lượng clorua theo % 
khối lượng cát 
0.22 0.04 0.05 
2.2 Chương trình thí nghiệm và cấp phối bê tông 
 Trong nội dung bài báo này, tác giả tiến hành 
nghiên cứu sự phát triển cường độ chịu nén của bê 
tông qua 3 ngày, 7 ngày và 28 ngày tuổi và cường 
độ chịu kéo khi uốn của bê tông sử dụng CB để 
thay thế CS. Nghiên cứu thực nghiệm được tiến 
hành dựa trên 2 cấp phối bê tông chuẩn sử dụng 
CS với mác bê tông dự kiến là M200 (Nhóm mẫu 
M200) và M300 (Nhóm mẫu M300), độ sụt dự kiến 
12 cm. Từ các cấp phối bê tông chuẩn tiến hành 
thay thế CS bằng CB với tỉ lệ lần lượt: 50% và 
100%. Các cấp phối bê tông sử dụng trong nghiên 
cứu được thể hiện chi tiết trong bảng 3. Cường độ 
chịu nén của mỗi cấp phối được xác định dựa vào 
kết quả thí nghiệm 05 mẫu lập phương 
150×150×150 mm theo TCVN 3118:1993 [1], cường 
độ chịu kéo uốn của mỗi cấp phối được xác định 
dựa vào kết quả thí nghiệm 05 mẫu lăng trụ 
150×150×600 mm theo TCVN 3119:1993 [2]. 
 Sau khi đổ, các mẫu được bảo dưỡng trong 3 
ngày, 7 ngày và 28 ngày tuân theo các tiêu chuẩn 
hiện hành. Sau thời gian bảo dưỡng đến các ngày 
tuổi dự kiến, các mẫu được thí nghiệm tại phòng thí 
nghiệm trường Đại học Xây dựng Miền Trung. Mẫu 
lập phương được thí nghiệm trên máy nén có thang 
đo cực đại 100 tấn, mẫu lăng trụ để thí nghiệm kéo 
uốn được thí nghiệm trên máy nén có thang đo cực 
đại 20 tấn (hình 1). 
a) Thí nghiệm nén mẫu b) Thí nghiệm kéo uốn 
Hình 1. Thí nghiệm nén và thí nghiệm kéo uốn 
VẬT LIỆU XÂY DỰNG - MÔI TRƯỜNG 
Tạp chí KHCN Xây dựng - số 1/2021 65 
3. Kết quả thí nghiệm và bàn luận 
 Giá trị cường độ chịu nén trung bình của mẫu 
lập phương Rm ở 3 ngày, 7 ngày và 28 ngày tuổi và 
cường độ chịu kéo uốn trung bình Rku của các cấp 
phối bê tông nhận được từ thí nghiệm được thể 
hiện trong bảng 3. Hình 2 thể hiện biểu đồ phát triển 
cường độ của các nhóm cấp phối qua các ngày tuổi 
khác nhau. Có thể thấy, trong giai đoạn từ 3 đến 7 
ngày đầu tốc độ phát triển cường độ của các nhóm 
mẫu khác nhau nhưng giai đoạn từ 7 đến 28 ngày 
tuổi, lượng gia tăng cường độ của các nhóm mẫu 
bê tông là tương đồng nhau. Ở 3 ngày tuổi, cường 
độ chịu nén của các mẫu M200 trung bình đạt 
61.8% so với cường độ chịu nén 28 ngày, trong khi 
đó giá trị này đối với mẫu M300 là 59.9 %. Ở 7 ngày 
tuổi, các giá trị này tương ứng là 83.2% và 81.5%. 
Kết quả nghiên cứu về sự phát triển cường độ của 
mẫu BTCB trong bài báo phù hợp với kết quả 
nghiên cứu của T. Dhondy và các cộng sự [8], theo 
đó các tác giả trên nhận thấy cường độ của BTCB 
phát triển sớm hơn so với BTCS. 
Biểu đồ so sánh cường độ chịu nén của các 
nhóm mẫu M200 và M300 ở các ngày tuổi 3, 7 và 
28 được thể hiện tương ứng trên hình 3 và hình 4, 
biểu đồ so sánh cường độ chịu kéo uốn của các 
mẫu cấp phối M200 và M300 được thể hiện tương 
ứng trên hình 5 và hình 6. Theo kết quả nghiên cứu 
thực nghiệm, cường độ của các mẫu bê tông M200 
ở 28 ngày tuổi thay đổi từ 23.3 MPa đến 30.5 MPa, 
trong đó cường độ của mẫu M200-100% CB2 có giá 
trị cao nhất. Đối với các mẫu M300, ở 28 ngày tuổi, 
cường độ của các mẫu ứng với các cấp phối khác 
nhau dao động từ 31.0 MPa đến 37.75 MPa, trong 
đó mẫu M300-100%CB2 đạt giá trị cường độ cao 
nhất tương tự như nhóm mẫu M200. Nhìn chung, 
khi thay thế CS bằng CB được xử lý bằng các 
phương pháp khác nhau cường độ của mẫu bê 
tông thay đổi đa dạng. Các mẫu bê tông sử dụng 
CB M200-100%CB, M200-100%CB7, M200-
50%CS+50%CB7 và M200-50%CS+50%CB2, cũng 
như các mẫu nhóm M300 - M300-100%CB, M300-
100%CB7, M300-50%CS+50%CB7 và M300-
50%CS+50%CB2 có cường độ ở 28 ngày tuổi có xu 
hướng tăng so với mẫu đối chứng, tuy nhiên tỉ lệ 
tăng không đáng kể, cường độ các mẫu này chênh 
lệch so với mẫu đối chứng bê tông CS không quá 
3%. Tuy nhiên, ở 3 và 7 ngày tuổi, cường độ các 
mẫu bê tông sử dụng CB phát triển nhanh hơn so 
với mẫu bê tông sử dụng CS. Kết quả nghiên cứu 
này phù hợp với các kết quả nghiên cứu của 
Kartheek Thunga và Venkat Das T [19], Dhondy và 
cộng sự [9]. 
Bảng 3. Cấp phối bê tông và kết quả thí nghiệm 
Nhóm 
mẫu 
Tên cấp phối 
Thành phần cốt liệu cho 1m
3 
bê tông Rm, MPa
Rku, 
MPa 
Xi măng 
PCB40, kg 
Cát, kg Đá, 
kg 
Nước, 
lít 
3 
ngày 
7 
ngày 
28 
ngày CS CB 
Nhóm 
mẫu 
M200 
M200-100%CS 375 546 0 1185 210 14.3 19.54 23.61 3.91 
M200-100%CB 375 0 546 1185 210 14.79 20.66 24.26 4.01 
M200-100%CB7 375 0 546 1185 210 14.39 18.77 23.08 3.85 
M200-100%CB2 375 0 546 1185 210 19.42 26.23 30.50 5.07 
M200-50%CS+50%CB7 375 273 273 1185 210 14.91 19.47 23.30 3.89 
M200-50%CS+50%CB2 375 273 273 1185 210 14.47 20.12 25.24 4.26 
Nhóm 
mẫu 
M300 
M300-100%CS 462 756 0 1088 238 18.92 26.62 31.53 5.20 
M300-100%CB 462 0 756 1088 238 18.37 27.07 32.37 5.34 
M300-100%CB7 462 0 756 1088 238 19.35 23.64 31.00 5.16 
M300-100%CB2 462 0 756 1088 238 19.64 30.10 37.75 6.30 
M300-50%CS+50%CB7 462 378 378 1088 238 19.48 25.68 31.31 5.23 
M300-50%CS+50%CB2 462 378 378 1088 238 21.47 26.83 32.44 5.36 
VẬT LIỆU XÂY DỰNG - MÔI TRƯỜNG 
66 Tạp chí KHCN Xây dựng - số 1/2021 
a) Nhóm mẫu M200 b) Nhóm mẫu M300 
Hình 2. Biểu đồ phát triển cường độ mẫu lập phương theo thời gian 
Hình 3. Cường độ chịu nén trung bình mẫu lập phương thuộc nhóm mẫu M200 
Hình 4. Cường độ chịu nén trung bình mẫu lập phương thuộc nhóm mẫu M300 
Hình 5. Cường độ kéo uốn trung bình của các mẫu M200 
14
19
24
29
34
3 8 13 18 23 28
R
,
m
M
P
a
Thời gian t, ngày
100%CS 100%CB
100%CB7 100% CB2
50%CS+50%CB7 50%CS+50%CB2
14
20
26
32
38
3 8 13 18 23 28
R
m
, 
M
P
a
Thời gian t, ngày
100%CS 100%CB
100%CB7 100% CB2
50%CS+50%CB7 50%CS+50%CB2
1
4
.3
1
4
.7
9
1
4
.3
9
1
9
.4
2
1
4
.9
1
1
4
.4
7
1
9
.5
4
2
0
.6
6
1
8
.7
7 2
6
.2
3
1
9
.4
7
2
0
.1
2
2
3
.6
1
2
4
.2
6
2
3
.0
8 3
0
.0
5
2
3
.3
2
5
.2
4
0
10
20
30
40
100% CS 100% CB 100% CB7 100% CB2 50% CS+50%
CB7
50% CS+50%
CB23 ngày 7 ngày 28 ngày
R
m
, 
M
P
a
1
8
.9
2
1
8
.3
7
1
9
.3
5
1
9
.6
4
1
9
.4
8
2
1
.4
7
2
6
.6
2
2
7
.0
7
2
3
.6
4 3
0
.1
2
5
.6
8
2
6
.8
3
3
1
.5
3
3
2
.3
7
3
1
.0 3
7
.7
5
3
1
.3
1
3
2
.4
4
0
10
20
30
40
100% CS 100% CB 100% CB7 100% CB2 50% CS+50%
CB7
50% CS+50%
CB2
R
m
, 
M
P
a
3 ngày 7 ngày 28 ngày
3.91 4.01 3.85
5.07
3.89 4.26
0
2
4
6
100%
 CS
100%
 CB
100%
 CB7
100%
 CB2
50% CS
+50% CB7
50% CS
+50% CB2
R
k
u
, 
M
P
a
VẬT LIỆU XÂY DỰNG - MÔI TRƯỜNG 
Tạp chí KHCN Xây dựng - số 1/2021 67 
Hình 6. Cường độ kéo uốn trung bình của các mẫu M300 
Khi xử lý rửa trôi CB bằng dòng chảy sông 
(CB7), hàm lượng clorua trong cát giảm đến 
ngưỡng cho phép để không ảnh hưởng đến bê 
tông. Tuy nhiên, qua quan sát bằng mắt thường có 
thể thấy, trong CB xử lý bằng dòng chảy sông có 
lượng tạp chất (như bùn, sét) bám dính tương đối 
nhiều. Do đó, các mẫu sử dụng CB7 (M200-
100%CB7, M200-50%CS+50%CB7 và M300-
100%CB7, M300-50%CS+50%CB7) có cường độ 
không tăng so với các mẫu đối chứng tương ứng 
M200-100%CS và M300-100%CS. 
 Khi sử dụng CB2 qua xử lý 2 lần bằng nước 
nóng 90
0
, hàm lượng clorua giảm đến dưới giới hạn 
nguy hiểm cho bê tông, thêm vào đó tạp chất bám 
dính trên bề mặt của cát giảm đáng kể. Vì vậy, bê 
tông sử dụng CB xử lý rửa trôi bằng nước nóng có 
cường độ chịu nén cao hơn mẫu đối chứng bê tông 
CS. Theo đó, cường độ chịu nén trung bình của 
mẫu M200-100%CB2 và M300-100%CB2 lớn hơn 
giá trị của mẫu đối chứng M200-100%CS và M300-
100%CS tương ứng là 29.2% và 19.7%. Với các 
mẫu bê tông thay thế 50% CB qua xử lý rửa trôi cho 
CS M200-50%CS+50%CB2 và M300-
50%CS+50%CB2, cường độ chịu nén lớn hơn so 
với mẫu đối chứng M200-100%CS và M300-
100%CS tương ứng là 6.9% và 2.9%. Các kết quả 
nghiên cứu này trùng khớp với các kết luận của 
nhiều tác giả trên thế giới, điển hình như N. 
Poonkuzhali và cộng sự [15] hay Kartheek Thunga 
và T. Venkat Das [19]. 
 Tương tự như cường độ chịu nén, tỉ lệ tăng 
cường độ chịu kéo uốn cũng được nhận thấy ở mẫu 
bê tông sử dụng CB2. Theo đó, cường độ chịu kéo 
uốn của mẫu M200-100%CB2 và M300-100%CB2 
tăng tương ứng 29.8% và 21% so với các mẫu đối 
chứng bê tông CS tương ứng (M200-100%CS và 
M300-100%CS). Trong khi đó, cường độ chịu kéo 
uốn của các mẫu bê tông sử dụng CB còn lại không 
thay đổi nhiều so với mẫu BTCS. 
 Ngoài ra, với các cấp phối dự kiến M200 và 
M300, khi sử dụng CB thay thế CS, tỉ lệ tăng cường 
độ và sự phát triển cường độ theo tương đối giống 
nhau. 
4. Kết luận 
 Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm, có thể rút 
ra một số kết luận chính như sau: 
 - Cát biển khai thác tại biển Tp. Tuy Hoà có 
thành phần hạt phù hợp cho bê tông; 
 - Sự phát triển cường độ của các mẫu bê tông 
với các cấp phối dự kiến M200 và M300 tương 
đồng nhau khi thay thế CS bằng CB; 
 - Sử dụng hoàn toàn CB2 qua xử lý hai lần bằng 
nước nóng 90
0
C cải thiện đáng kể cường độ chịu 
nén và kéo uốn của cả hai nhóm cấp phối bê tông 
M200 và M200 so với BTCS tương ứng, trong khi 
đó việc sử dụng CB7 qua xử lý rửa trôi bằng 
phương pháp tận dụng dòng chảy sông không cải 
thiện được cường độ so với BTCS; 
 - Việc thay thế 50% CB cho CS không cải thiện 
được cường độ chịu nén và chịu kéo của các mẫu 
bê tông M200 và M300. 
 Cũng cần nhấn mạnh rằng, các kết luận trên 
đây có thể chỉ phù hợp với các cấp phối nghiên cứu 
và vật liệu trên địa bàn Tp. Tuy Hoà. Với các khu 
vực khác, hàm lượng các tạp chất và ion gây hại 
trong cốt liệu có thể khác so với các vật liệu sử 
dụng trong nghiên cứu này. Vì vậy, cần có thêm 
nhiều nghiên cứu hơn nữa trong lĩnh vực này để có 
cơ sở sử dụng CB thay thế CS cho bê tông. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. TCVN 3118:1993 (1993), "Bê tông nặng - phương 
pháp xác định cường độ nén", Việt Nam. 
2. TCVN 3119:1993 (1993), "Bê tông nặng - Phương 
pháp xác định cường độ kéo khi uốn", Việt Nam. 
3. TCVN 7572-2:2006 (2006), "Cốt liệu cho bê tông và 
5.2 5.34 5.16
6.3
5.23 5.36
0
2.5
5.0
7.5
100%
CS
100%
CB
100%
CB7
100%
CB2
50% CS
+50% CB7
50% CS
+50% CB2
R
k
u
, 
M
P
a
VẬT LIỆU XÂY DỰNG - MÔI TRƯỜNG 
68 Tạp chí KHCN Xây dựng - số 1/2021 
vữa - Phương pháp thử - Phần 2: Xác định thành 
phần hạt", Việt Nam. 
4. TCVN 7572-4:2006 (2006), "Cốt liệu cho bê tông và 
vữa - Phương pháp thử - Phần 4: Xác định khối lượng 
riêng, khối lượng thể tích và độ hút nước", Việt Nam. 
5. TCVN 7572-15:2006 (2006), "Cốt liệu cho bê tông và 
vữa - Phương pháp thử - Phần 15: Xác định hàm 
lượng clorua", Việt Nam. 
6. Trần Văn Châu (2018), Nghiên cứu sản xuất bê tông 
từ cát biển, nước biển khu vực Nha Trang-Khánh 
Hòa , Trường Đại học ách hoa-Đại học Đà N ng. 
7. W. Sai Deepak (2015), "Effect on compressive strength 
of concrete using sea sand as a partial replacement for 
fine aggregate". International Journal of Research in 
Engineering and Technology, 04(06): p. 180-183. 
8. T. Dhondy, A. Remennikov, and M. Neaz Sheikh 
(2020), "Properties and Application of Sea Sand in 
Sea Sand and Seawater Concrete". Journal of 
Materials in Civil Engineering, 32(12): p. 04020392. 
9. Tanaz Dhondy, Alex Remennikov, and M. Neaz Shiekh 
(2019), "Benefits of using sea sand and seawater in 
concrete: a comprehensive review". Australian Journal 
of Structural Engineering, 20(4): p. 280-289. 
10. Trần Tuấn Hiệp và Võ Xuân Lý (2002), "Nghiên cứu 
sử dụng cát biển và nước biển và nước nhiễm mặn 
làm bê tông xi măng trong xây dựng đường ô tô và 
công trình phòng hộ ven biển vùng đồng bằng Nam 
bộ". Tạp chí Giao thông Vận tải, 6. 
11. M. Karthikeyan and V. Nagarajan (2017), "Chloride 
Analysis of Sea Sand for Making Concrete". National 
Academy Science Letters, 40(1): p. 29-31. 
12. K. Katano, et al. (2010), "Properties and Applications 
of Concrete Made with Sea Water and Un-washed 
Sea Sand". null. Vol. null. null. 
13. Phạm Văn Khoan (2010), "Tình trạng ăn mòn bê tông 
cốt thép ở vùng biển Việt Nam và một số kinh nghiệm 
sử dụng chất ức chế ăn mòn canxi nitrít . Tạp chí 
Khoa học công nghệ xây dựng (IBST), 2. 
14. Takahiro Nishida, et al. (2013), "Some Considerations 
for Applicability of Seawater as Mixing Water in 
Concrete". Journal of Materials in Civil Engineering, 
27: p. B4014004. 
15. N. Poonkuzhali, A. Nivedhitha, and B.S. Sughashini 
(2018), "Experimental Investigation on Split Tensile 
and Compressive Strength of Concrete Replacing 
Fine Aggregate with Sea Sand and Copper Slag". 
SSRG International Journal of Civil Engineering 
(SSRG - IJCE), Volume 5(Issue 4): p. 4. 
16. B. Sampath and G. Mohankuma (2016), "Preliminary 
Study on the Development of Concrete with Sea 
Sandas Fine Aggregate". Indian Journal of Science 
and Technology, 9. 
17. Nguyễn Khánh Sơn (2014), Sử dụng cát biển làm 
thành phần cốt liệu trong chế tạo bê-tông, in Hội nghị 
Khoa học và Công nghệ lần thứ 2 Tài nguyên, năng 
lượng và môi trường vì sự phát triển bề vững". Đại 
học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh: Việt Nam. p. 764-770. 
18. Trần Ngọc Thanh, Nguyễn Nhật Huy và Dương Minh 
Triều (2020), Đánh giá khả năng chịu nén của bê 
tông sử dụng cát biển trong các điều kiện bảo dưỡng 
khác nhau". Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng 
(KHCNXD)-ĐHXD, 14(1V): p. 60-72. 
19. Kartheek Thunga and Venkat Das T (2020), "An 
experimental investigation on concrete with 
replacement of treated sea sand as fine aggregate". 
Materials Today: Proceedings, 27: p. 1017-1023. 
20. Jianzhuang Xiao, et al. (2017), "Use of sea-sand and 
seawater in concrete construction: Current status and 
future opportunities". Construction and Building 
Materials, 155: p. 1101-1111. 
Ngày nhận bài: 13/01/2021. 
Ngày nhận bài sửa: 22/02/2021. 
Ngày chấp nhận đăng: 23/02/2021. 
VẬT LIỆU XÂY DỰNG - MÔI TRƯỜNG 
Tạp chí KHCN Xây dựng - số 1/2021 69 
Experimental study on the properties of sea sand concrete 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_thuc_nghiem_mot_so_tinh_chat_cua_be_tong_su_dung.pdf
Ebook liên quan