Nghiên cứu tiềm năng tự nhiên phục vụ phát triển du lịch theo hướng bền vững ở tỉnh Đồng Tháp

Tóm tắt Nghiên cứu tiềm năng tự nhiên phục vụ phát triển du lịch theo hướng bền vững ở tỉnh Đồng Tháp: ..._______________________________________________________________ 79 cao trong các nghiên cứu địa lí du lịch, tỏ rõ hiệu quả trong đánh giá phục vụ du lịch [3], [5].  Độ hấp dẫn và khả năng tổ chức nhiều loại hình du lịch - Rất hấp dẫn: có trên 5 phong cảnh đẹp và đa dạng hoặc có trê... 4 3 2 1 1 Độ hấp dẫn 3 12 9 6 3 2 Độ bền vững 3 12 9 6 3 3 Sức chứa 2 8 6 4 2 4 Vị trí điểm du lịch 2 8 6 4 2 5 Thời gian hoạt động 1 4 3 2 1 Tổng 44 33 22 11 Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả. 2.2.3. Lựa chọn các điểm để đánh giá Các điểm tiềm năng du lịch tự nhiên của tỉnh ... hội thảo (có thể mời các giảng viên chuyên ngành du lịch, môi trường của trường đại học; các nhà quản lí tour, lữ hành về báo cáo...). Cần tăng cường công tác quảng bá tiềm năng du lịch thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài, internet, tờ rơi...), qua các cuộc hội thả...

pdf11 trang | Chia sẻ: havih72 | Ngày: 28/08/2021 | Lượt xem: 148 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Nghiên cứu tiềm năng tự nhiên phục vụ phát triển du lịch theo hướng bền vững ở tỉnh Đồng Tháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
5 phong cảnh 
đẹp và đa dạng hoặc có trên 5 hiện tượng, 
di tích tự nhiên đặc biệt; hoặc có sự hỗ 
trợ với số lượng tương ứng của tài 
nguyên nhân văn tại địa điểm du lịch tự 
nhiên; hoặc đáp ứng được 5 loại hình du 
lịch. 
- Khá hấp dẫn: có 3 - 5 phong cảnh 
đẹp và đa dạng; hoặc có 3 - 5 hiện tượng, 
di tích đặc biệt; hoặc có sự hỗ trợ với số 
lượng tương ứng của tài nguyên nhân văn 
tại địa điểm du lịch tự nhiên; hoặc đáp 
ứng được 3 - 5 loại hình du lịch. 
- Hấp dẫn trung bình: có 2 phong 
cảnh đẹp và đa dạng; hoặc có 2 hiện 
tượng, di tích đặc biệt; hoặc có sự hỗ trợ 
với số lượng tương ứng của tài nguyên 
nhân văn tại địa điểm du lịch tự nhiên; 
hoặc đáp ứng được 2 loại hình du lịch. 
- Kém hấp dẫn: có 1 phong cảnh đẹp; 
hoặc có 1 hiện tượng, di tích đặc biệt; 
hoặc đáp ứng được 1 loại hình du lịch. 
 Độ bền vững của tài nguyên, 
môi trường 
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng bền 
vững của các thành phần và bộ phận 
trước áp lực của hoạt động du lịch, của 
khách du lịch và các đối tượng khác hoặc 
thiên tai. 
- Rất bền vững: không có thành phần 
hoặc bộ phận nào bị phá hoại, nếu có thì 
ở mức độ không đáng kể. Hoạt động du 
lịch diễn ra liên tục. 
- Bền vững: có 1 đến 2 thành phần 
hoặc bộ phận bị phá hủy ở mức độ nhẹ, 
có khả năng tự phục hồi. Hoạt động du 
lịch diễn ra thường xuyên. 
- Ít bền vững: có 1 đến 2 thành phần 
hoặc bộ phận bị phá hoại đáng kể, phải 
có sự hỗ trợ của con người mới phục hồi 
nhanh được, hoạt động du lịch có thể bị 
hạn chế. 
- Kém bền vững: có 1 đến 2 thành 
phần hoặc bộ phận tự nhiên bị phá hoại 
nặng, phải cần đến sự phục hồi của con 
người, hoạt động du lịch bị gián đoạn. 
 Sức chứa của điểm du lịch 
Sức chứa khách du lịch thể hiện 
bằng số lượng khách có thể tham quan 
điểm du lịch đó trong khoảng thời gian 
nhất định (ngày). 
- Rất lớn (rất thuận lợi): có sức chứa 
trên 1000 người/ngày. 
- Lớn (khá thuận lợi): có sức chứa 
trên 500 - 1000 người/ngày. 
- Trung bình (thuận lợi trung bình): 
có sức chứa 100 - 500 người/ngày. 
- Nhỏ (kém thuận lợi): có sức chứa 
dưới 100 người/ngày. 
 Vị trí tiếp cận điểm du lịch 
Vị trí trung tâm được xác định là 
thành phố Cao Lãnh, các địa điểm xa 
nhất không vượt quá 150 km nên điểm 
đánh giá cho mức độ thuận tiện như sau: 
- Rất thuận tiện: khoảng cách đi lại 
dưới 35 km, thời gian tiếp cận dưới 60 
phút (bằng xe máy hoặc thuyền), có thể 
đi lại dễ dàng bằng nhiều phương tiện 
thông dụng (3 - 4 loại phương tiện). 
- Thuận tiện: khoảng cách đi lại từ 35 
đến dưới 70 km, thời gian tiếp cận từ 60 - 
90 phút (bằng xe máy hoặc thuyền), có 
thể đi lại dễ dàng bằng nhiều phương tiện 
Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 47 năm 2013 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
 80 
thông dụng (2 - 3 loại phương tiện). 
- Ít thuận tiện: khoảng cách đi lại từ 
70 đến dưới 105 km, thời gian tiếp cận 
trên 90 -120 phút, có thể đi lại bằng 2 - 3 
loại phương tiện thông dụng. 
- Không thuận lợi: khoảng cách trên 
105 km, thời gian đi đường trên 120 phút, 
có thể đi lại bằng 1 - 2 loại phương tiện 
thông dụng. 
 Thời gian hoạt động du lịch 
Thời gian hoạt động du lịch được 
xác định bởi thời gian thích hợp nhất về 
các điều kiện khí hậu đối với sức khỏe du 
khách cũng như thời gian thuận lợi nhất 
cho việc triển khai các hoạt động du lịch 
ở tỉnh Đồng Tháp. 
- Rất dài: có hơn 200 ngày trong năm 
có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch 
và trên 180 ngày trong năm có điều kiện 
khí hậu thích hợp nhất đối với sức khoẻ 
con người. 
- Khá dài: có 150 đến 200 ngày trong 
năm có thể triển khai tốt các hoạt động 
du lịch và 120 đến 180 ngày trong năm 
có điều kiện khí hậu thích hợp nhất đối 
với sức khoẻ con người. 
- Dài trung bình: có 100 đến 150 
ngày trong năm có thể triển khai tốt các 
hoạt động du lịch và 90 đến 120 ngày 
trong năm có điều kiện khí hậu thích hợp 
nhất đối với sức khoẻ con người. 
- Ngắn: có dưới 100 ngày trong năm 
có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch 
và dưới 90 ngày trong năm có điều kiện 
khí hậu thích hợp nhất đối với sức khoẻ 
con người. 
Tùy thuộc mức độ quan trọng của 
mỗi tiêu chí nên cần xác định các trọng 
số khác nhau cho mỗi tiêu chí theo mức 
độ quan trọng tăng dần là: 1, 2, 3. Theo 
đó, trọng số mỗi tiêu chí được xác định 
là: 
- Độ hấp dẫn, khả năng kết hợp nhiều 
loại hình du lịch: hệ số 3. 
- Độ bền vững của tiềm năng: hệ số 3. 
- Vị trí, khả năng tiếp cận điểm du 
lịch: hệ số 2. 
- Sức chứa điểm du lịch: hệ số 2. 
- Thời gian hoạt động du lịch: hệ số 1. 
2.2.2. Thang điểm đánh giá 
Điểm đánh giá bao gồm điểm đánh 
giá riêng từng chỉ tiêu và điểm đánh giá 
tổng hợp (thể hiện ở bảng 1). 
Theo thang đánh giá này (bảng 1), 
chúng ta sẽ xác định được điểm tiềm 
năng du lịch có điểm cao nhất là 44 và 
thấp nhất là 11. Vì thế, xác định được 
điểm tiềm năng du lịch như sau: 
- Điểm có tiềm năng du lịch tự nhiên 
rất cao (loại 1): 36 - 44 (81 - 100%). 
- Điểm có tiềm năng du lịch tự nhiên 
cao (loại 2): 27 - 35 (61 - 80%). 
- Điểm có tiềm năng du lịch tự nhiên 
trung bình (loại 3): 18 - 26 (41 - 60%). 
- Điểm có tiềm năng du lịch tự nhiên 
kém (loại 4): 11 - 17 (25 - 40%). 
Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Trịnh Phi Hoành 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
 81 
Bảng 1. Bảng thang điểm đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch tự nhiên 
Bậc số 
Stt Tiêu chí Hệ số 
4 3 2 1 
1 Độ hấp dẫn 3 12 9 6 3 
2 Độ bền vững 3 12 9 6 3 
3 Sức chứa 2 8 6 4 2 
4 Vị trí điểm du lịch 2 8 6 4 2 
5 Thời gian hoạt động 1 4 3 2 1 
Tổng 44 33 22 11 
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả. 
2.2.3. Lựa chọn các điểm để đánh giá 
Các điểm tiềm năng du lịch tự 
nhiên của tỉnh Đồng Tháp được lựa chọn 
để đánh giá dựa trên các cơ sở sau: 
- Điểm du lịch tự nhiên hoặc có tiềm 
năng tự nhiên phát triển du lịch là chủ 
yếu; 
- Điểm du lịch đang được khai thác 
hoặc có khả năng khai thác trong tương 
lai; 
- Điểm du lịch tiêu biểu và phân bố 
đều khắp trong tỉnh; 
Trên cơ sở các tiêu chí trên, ở tỉnh 
Đồng Tháp những địa điểm có tiềm năng 
du lịch tự nhiên được lựa chọn đánh giá là: 
- Vườn quốc gia Tràm Chim; 
- Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng; 
- Khu rừng tràm nguyên sinh thuộc 
khu căn cứ cách mạng Xẻo Quýt2; 
- Vườn cò Tháp Mười; 
- Đoạn cảnh quan sông Tiền chảy 
qua tỉnh Đồng Tháp; 
- Cồn Tiên (huyện Lai Vung); 
- Cồn An Hòa (huyện Châu Thành); 
- Cồn Đông Sang (thị xã Sa Đéc); 
- Cồn Bình Thạnh (huyện Cao Lãnh); 
- Cồn Tô Châu (huyện Thanh Bình); 
- Cù lao Long Khánh (huyện Hồng 
Ngự). 
2.2.4. Kết quả đánh giá 
Kết quả đánh giá tổng hợp được thể 
hiện ở bảng 2. 
Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 47 năm 2013 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
 82 
Bảng 2. Bảng điểm đánh giá tổng hợp các điểm du lịch tự nhiên tỉnh Đồng Tháp 
Điểm thành phần 
Điểm tiềm năng Độ hấp 
dẫn 
Độ bền 
vững 
Sức 
chứa 
Vị 
trí 
Thời 
gian 
Điểm 
tổng 
hợp 
Loại 
Tràm Chim 12 12 6 8 4 42 1 
Gáo Giồng 12 12 4 8 4 40 1 
Rừng tràm Xẻo Quýt 9 9 4 8 4 34 2 
Vườn cò Tháp Mười 9 9 2 8 4 32 2 
Sông Tiền 12 9 6 8 4 38 1 
Cồn Tiên 9 9 2 2 4 26 3 
Cồn An Hòa 9 9 2 2 4 26 3 
Cồn Đông Sang 9 9 4 6 4 32 2 
Cồn Bình Thạnh 6 9 2 2 4 23 3 
Cồn Tô Châu 9 9 2 6 4 30 2 
Cù lao Long Khánh 9 9 4 6 4 32 2 
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả. 
Kết quả đánh giá ở bảng 2, nhận 
thấy: 
- Điểm đánh giá tổng hợp cho các 
khu vực khá cao, đa số đều xếp vào loại 1 
và loại 2; một số điểm xếp ở loại 3 nhưng 
vẫn có tiềm năng rất lớn để phát triển du 
lịch, nhất là ở khía cạnh độ hấp dẫn và độ 
bền vững. Do đó, Đồng Tháp có những 
điều kiện tiền đề quan trọng cho phát 
triển du lịch, nhất là loại hình du lịch gắn 
liền với thiên nhiên và đời sống của 
người dân bản địa. 
- Một số đối tượng có điểm đánh giá 
bằng nhau hoặc gần bằng nhau, tức là 
mức độ thuận lợi nói chung như nhau 
nhưng không phải phát triển các loại hình 
du lịch giống nhau và cùng đề xuất các 
định hướng khai thác giống nhau (ví dụ 
vườn cò Tháp Mười và cồn An Hòa...). 
- Trong các yếu tố đánh giá, thời gian 
hoạt động du lịch là có tính ổn định nhất 
do lãnh thổ Đồng Tháp không lớn, địa 
hình khá bằng phẳng, khí hậu ổn định 
nên ít có sự phân hóa. Trừ cảnh quan 
sông Tiền và một số cồn, cù lao trong lũ 
chính vụ (tháng 9, 10), nhất là những 
năm lũ lớn khó tổ chức các hoạt động du 
lịch trên sông, cồn nhưng vẫn có trên 200 
ngày tổ chức được các hoạt động du lịch. 
- Hầu hết các địa điểm có tiềm năng 
du lịch tự nhiên rất lớn đều bị hạn chế bởi 
vị trí tiếp cận, nhất là về mặt phương tiện 
đi lại cũng như cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ 
thuật phục vụ du lịch. Các cồn, cù lao 
nằm cách biệt với phần đất bên trong 
(chưa có cầu giao thông) nên phương 
tiện đi lại chủ yếu là phương tiện đường 
thủy (phà, thuyền, tắc ráng). 
- Nhiều điểm có thế mạnh tự nhiên 
có thể khai thác, phát triển phục vụ du 
lịch có những điều kiện tương đồng nhau. 
Đó là hệ thống các cù lao, cồn bãi giữa 
Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Trịnh Phi Hoành 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
 83 
sông - đây cũng là nét đặc trưng của tỉnh 
cũng như khu vực ĐBSCL. Điều này, 
vừa là thế mạnh nhưng đồng thời cũng là 
khó khăn cho việc xác định các sản phẩm 
du lịch đặc trưng của tỉnh Đồng Tháp. 
2.3. Khai thác tiềm năng tự nhiên phục 
vụ phát triển du lịch theo hướng bền 
vững tỉnh Đồng Tháp 
Mặc dù, tỉnh có tiềm năng để phát 
triển du lịch, nhất là về mặt tự nhiên 
nhưng trong những năm qua sự phát triển 
du lịch vẫn chưa tương xứng tiềm năng 
và mang tính bền vững (số lượng khách 
du lịch đến Đồng Tháp chưa cao và tăng 
chậm: năm 2008 là 523.120 lượt khách 
đến 2009 là 145.518 lượt khách; hiệu 
quả kinh doanh du lịch còn thấp; năm 
2005 doanh thu du lịch đạt 40.648 triệu 
đồng, năm 2010 giảm còn 36.701 triệu 
đồng; công suất sử dụng các phòng lưu 
trú giai đoạn 2005 - 2012 chỉ đạt dưới 
50%; vấn đề liên kết trong phát triển du 
lịch vẫn chưa được đẩy mạnh; công tác 
quảng bá tiềm năng, thế mạnh phát triển 
du lịch vẫn còn hạn chế; mới chỉ chú 
trọng phát triển du lịch ở những vùng có 
sẵn còn những điểm có tiềm năng thì vẫn 
chưa được quan tâm đầu tư phát triển... 
[1], [7]). 
Để khai thác bền vững tiềm năng tự 
nhiên cho phát triển du lịch, trong thời 
gian tới tỉnh Đồng Tháp cần thực thi một 
số định hướng cơ bản sau: 
2.3.1. Tăng cường đào tạo đội ngũ nhân 
lực ngành du lịch, quảng bá tiềm năng 
Muốn khai thác tốt và bền vững thế 
mạnh tự nhiên cho phát triển du lịch hiệu 
quả cần có những con người chuyên 
trách; am hiểu chuyên môn; có ý thức và 
trách nhiệm với nghề. Muốn vậy, công 
tác đào tạo và chế độ đãi ngộ cho nhân 
lực ngành du lịch của tỉnh là rất quan 
trọng. Trong đào tạo nguồn nhân lực du 
lịch, tỉnh Đồng Tháp cần gắn liền với 
doanh nghiệp, các đơn vị tổ chức và kinh 
doanh du lịch để đội ngũ nhân lực luôn 
am hiểu thực tiễn và tiềm năng du lịch 
địa phương. Đồng thời, thường xuyên bổ 
sung, cập nhật kiến thức cho đội ngũ 
quản lí, nhân viên thông qua các buổi tọa 
đàm, hội thảo (có thể mời các giảng viên 
chuyên ngành du lịch, môi trường của 
trường đại học; các nhà quản lí tour, lữ 
hành về báo cáo...). 
Cần tăng cường công tác quảng bá 
tiềm năng du lịch thông qua các phương 
tiện thông tin đại chúng (báo, đài, 
internet, tờ rơi...), qua các cuộc hội thảo, 
mở rộng quan hệ hợp tác với các doanh 
nghiệp, đơn vị lữ hành để giới thiệu tài 
nguyên du lịch của tỉnh với du khách 
trong và ngoài nước cũng như thông qua 
việc tuyển chọn các đề tài; công bố các 
bài báo về tiềm năng du lịch tỉnh. Mặt 
khác, cần chú trọng đối tượng khách du 
lịch ở các đô thị lớn (thành phố Hồ Chí 
Minh, Bình Dương...) và nước ngoài 
nhằm thu hút trong những dịp nghỉ lễ 
ngắn ngày hay đi công tác. 
2.3.2. Liên kết trong hoạt động du lịch 
Liên kết giữa các địa điểm có tiềm 
năng phát triển du lịch trong tỉnh cũng 
như các tỉnh bạn (An Giang, Vĩnh Long, 
Tiền Giang...), nước bạn (Campuchia) 
cũng như giữa các điểm tài nguyên du 
lịch trong tỉnh; giữa các cơ quan điều 
hành và tổ chức hoạt động du lịch nhằm 
tận dụng cơ sở hạ tầng, bổ trợ và hoàn 
Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 47 năm 2013 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
 84 
thiện cho nhau để cùng phát triển. Mặt 
khác, liên kết còn giúp các tỉnh trong 
vùng xác định thế mạnh nổi bật, ưu tiên 
đầu tư phát triển, xác định được sản 
phẩm đặc trưng cho mỗi địa phương, hạn 
chế được tình trạng “hao hao giống 
nhau”; “một nơi thấy được cả vùng”... 
Không những liên kết để phát triển 
du lịch giữa các địa phương mà tỉnh cũng 
cần chú trọng khai thác các điểm du lịch 
tự nhiên với các lễ hội văn hóa và làng 
nghề thủ công truyền thống, nhất là các lễ 
hội đặc trưng của tỉnh. Có như vậy mới 
phát huy tối đa tiềm năng, khai thác hiệu 
quả tài nguyên và thu hút được nhiều du 
khách. 
2.3.3. Tăng cường sự tham gia của cộng 
đồng dân cư vào hoạt động du lịch 
Các thế mạnh du lịch tự nhiên của 
Đồng Tháp thường gắn liền với hoạt 
động sản xuất, đời sống của người dân 
nên tăng cường sự tham gia của người 
dân trong hoạt động du lịch là rất cần 
thiết. Một mặt, giúp cho đời sống người 
dân được cải thiện, người dân sẽ có ý 
thức và trách nhiệm bảo tồn môi trường 
tự nhiên. Mặt khác, sẽ đa dạng hóa được 
các hoạt động, loại hình du lịch (du lịch 
cộng đồng, du lịch homestay, du lịch sinh 
thái, du lịch cuối tuần...) - những loại 
hình du lịch rất được du khách, nhất là du 
khách nước ngoài yêu thích khám phá tự 
nhiên, tìm hiểu văn hóa bản địa. 
Sự tham gia của cộng đồng dân cư 
cần được chú trọng trong xây cơ sở hạ 
tầng, vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 
như xây dựng và mở rộng đường dẫn vào 
khu du lịch; các khu vui chơi, giải trí, ăn 
uống gần các điểm du lịch... 
2.3.4. Đa dạng hóa các loại hình du lịch, 
sản phẩm du lịch 
Dựa trên các thế mạnh tự nhiên, ở 
Đồng Tháp có thể triển khai các loại hình 
du lịch nghỉ dưỡng; homestay; du lịch 
chuyên đề; du lịch nghiên cứu; du lịch 
sinh thái miệt vườn, du lịch mùa nước 
nổi. 
Bên cạnh các sản phẩm du lịch đặc 
trưng (mùa nước nổi, sản vật Tháp Mười, 
văn minh Gò Tháp) thì việc đa dạng hóa 
các sản phẩm du lịch là rất cần thiết, đáp 
ứng nhu cầu, thị hiếu da dạng của du 
khách. Bên cạnh các sản phẩm du lịch 
gắn liền với tự nhiên, ở những điểm du 
lịch có thế mạnh tự nhiên cần tăng cường 
thêm sản phẩm du lịch nhân văn (quà lưu 
niệm, sản vật quê hương: vườn cây trái, 
lúa trời, bông súng, mật ong...) và các 
hoạt động vui chơi, giải trí khác. 
2.3.5. Xây dựng các tuyến du lịch chuyên 
đề 
Trên cơ sở xác định các điểm có 
tiềm năng du lịch tự nhiên, có thể xây 
dựng các tuyến du lịch chuyên đề như: 
“Sông nước Cửu Long”; “ Đặc sản mùa 
nước nổi”; “Đồng Tháp Mười thiên 
nhiên vẫy gọi”; “Tháp Mười lũ và sen”; 
“Tháng Sếu đầu đỏ”; “Đồng Tháp nắng 
và xanh”, “Đặc sản Tháp Mười”... 
Bên cạnh đó, có thể kết hợp với các 
lễ hội, tín ngưỡng dân gian để tổ chức các 
tuyến du lịch kết hợp như “Đồng Tháp 
đất và người”; “văn minh vùng trũng 
lũ”... 
2.3.6. Đảm bảo độ bền vững tiềm năng 
du lịch tự nhiên 
Nhìn chung, các địa điểm có tiềm 
năng du lịch tự nhiên mới chỉ bước đầu 
Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Trịnh Phi Hoành 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
 85 
hoặc chưa được khai thác nên đây là điều 
kiện thuận lợi cho việc xây dựng, qui 
hoạch các địa điểm du lịch bền vững về 
mặt môi trường sinh thái tự nhiên cũng 
như xã hội. 
Trong mọi phương án thiết kế, tổ 
chức các hoạt động du lịch bên cạnh giá 
trị kinh tế thì yếu tố môi trường, độ bền 
vững của tự nhiên và môi trường xã hội 
luôn được tính đến. Để đảm bảo độ bền 
vững về môi trường điểm du lịch tự nhiên 
cần tính toán và xác định sức chứa vật lí 
để không khai thác quá mức “ngưỡng” 
chịu đựng của tài nguyên, môi trường. 
Đồng thời, có những biện pháp lồng ghép 
giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, giữ 
gìn tài nguyên trong các tour du lịch như 
tổ chức trò chơi; mở những bài hát về 
môi trường thiên nhiên trong một số thời 
điểm... 
3. Kết luận 
Kết quả nghiên cứu cho thấy, Đồng 
Tháp có nhiều tiềm năng tự nhiên để phát 
triển du lịch, nhất là các loại hình du lịch 
sinh thái miệt vườn, du lịch dựa vào cộng 
đồng, du lịch “home stay”, du lịch mùa 
nước nổi, du lịch cuối tuần, du lịch 
nghiên cứu... Đặc biệt, trong giai đoạn 
các cảnh quan thiên nhiên đang bị phá 
hủy nghiêm trọng dưới sức ép phát triển 
kinh tế - xã hội thì Đồng Tháp được xem 
là “môi trường xanh” - nơi lí tưởng cho 
nghỉ dưỡng và thư giãn, nhất là dịp cuối 
tuần, nghỉ lễ ngắn ngày. 
Nhìn chung, các điểm du lịch tự 
nhiên mới chỉ dừng lại ở thế mạnh mà 
chưa được đưa vào khai thác và sử dụng 
phục vụ phát triển du lịch hoặc khai thác 
chưa tương xứng tiềm năng. Để khai 
thác, sử dụng tiềm năng tự nhiên cho phát 
triển du lịch theo hướng bền vững: đưa 
Đồng Tháp trở thành “Một điểm đến lí 
tưởng - an toàn - thân thiện - văn minh 
vùng trũng lũ - văn minh Gò Tháp”, tỉnh 
Đồng Tháp cần tiến hành điều tra tổng 
thể, xác định các thế mạnh nổi bật, xây 
dựng các mô hình du lịch với sự tham gia 
của cộng đồng dân cư, chú trọng đầu tư 
cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật cho 
các điểm du lịch có nhiều tiềm năng phát 
triển... 
Ghi chú: Bài báo là một phần của đề tài KHCN cấp Cơ sở Trường Đại học Đồng 
Tháp, mã số CS2012.01.09. 
1 Công ước Ramsar là “công ước về bảo tồn những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt 
như là nơi cư trú của những loài chim nước - The Convention on Wetlands of International Importance, 
especially as Waterfowl Habitat” được ký kết tại Ramsar, Iran, ngày 02/02/1971, có hiệu lực ngày 
21/12/1975. Việt Nam là thành viên đầu tiên của khu vực Đông Nam Á và quốc gia thứ 50 gia nhập Công 
ước này (năm 1989). 
2 Căn cứ cách mạng Xẻo Quýt vừa là điểm du lịch tự nhiên vừa là điểm du lịch nhân văn. Tuy nhiên, bài báo 
chỉ tiến hành đánh giá đối với khu rừng tràm nguyên sinh nằm trong Khu di tích Xẻo Quýt. 
Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 47 năm 2013 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
 86 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp (2012), Niên giám thống kê 2011, Đồng Tháp. 
2. Trịnh Phi Hoành (2010), “Đánh giá điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển du lịch sinh 
thái tại vườn quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp”, Kỉ yếu Hội 
nghị Khoa học Địa lí toàn quốc lần thứ V, Hà Nội. 
3. Nguyễn Văn Hưng (2008), Nghiên cứu tài nguyên du lịch nhằm đề xuất các giải 
pháp phát triển du lịch tỉnh Bình Định, Luận văn Thạc sĩ Địa lí tự nhiên, Trường Đại 
học Khoa học - Đại học Huế. 
4. Trần Thị Đang Thanh (2011), “Du lịch mùa nước nổi ở vùng Đồng Tháp Mười - tiềm 
năng và thực trạng”, Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM, 32(66), tr. 168 - 176. 
5. Lê Văn Tin (1999), Đánh giá tài nguyên thiên nhiên tỉnh Thừa Thiên - Huế phục vụ 
du lịch, Luận án Tiến sĩ Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội. 
6. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Tháp (2009), Khám phá du lịch Đồng Tháp, 
Đồng Tháp. 
7. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Tháp (2011), Báo cáo tổng kết hoạt động du 
lịch năm 2011, phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2012, Đồng Tháp. 
8. UBND tỉnh Đồng Tháp (2007), Báo cáo tóm tắt Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 
đến năm 2020, Đồng Tháp. 
9. UBND tỉnh Đồng Tháp (2008), Đồng Tháp thế và lực mới trong thế kỉ XXI, Nxb 
Chính trị Quốc gia, TPHCM. 
(Ngày Tòa soạn nhận được bài: 22-4-2013; ngày phản biện đánh giá: 22-5-2013; 
ngày chấp nhận đăng: 21-6-2013) 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_tiem_nang_tu_nhien_phuc_vu_phat_trien_du_lich_the.pdf