Tiểu luận Vận dụng cặp phạm trù "Nội dung - Hình thức" trong vấn đề thương hiệu, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Tóm tắt Tiểu luận Vận dụng cặp phạm trù "Nội dung - Hình thức" trong vấn đề thương hiệu, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam: ... phẩm của doanh nghiệp để giúp phân biệt rõ ràng vị thế của sản phẩm trên thị trường. Nó là công cụ hữu hiệu để khách hàng nhận biết được sự tồn tại của sản phẩm và có ý định sử dụng sản phẩm. Dưới giác độ kinh tế có thể thấy dấu hiệu đặc trưng của thương hiệu là: a. Là các dấu hiệu hay mộ... và hiệu quả của Bảo Việt đã đề ra từ đầu năm về cơ bản đều đạt được. Hoạt động đầu tư tài chính đã góp phần tăng thu nhập hoạt động tài chính, đáp ứng nhu cầu về vốn cho đầu tư phát triển kinh tế. Bảo Việt đã chú trọng đầu tư dài hạn phục vụ các chương trình phát triển mục tiêu của Chính ph...IỆU Ở VIỆT NAM . * Phương hướng phát triển Muốn giành thắng lợi trong cạnh tranh phải phát triển thương hiệu và bảo đảm tính bền vững trong xây dựng và phát triển thương hiệu. Do đó doanh nghiệp cần tập trung vào các vấn đề sau: 10 a.Về nhận thức: Có nhận thức đúng và đầy đủ về thương ...

pdf16 trang | Chia sẻ: havih72 | Ngày: 11/09/2021 | Lượt xem: 12 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Tiểu luận Vận dụng cặp phạm trù "Nội dung - Hình thức" trong vấn đề thương hiệu, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tại thuần tuý không 
chứa đựng nội dung, ngược lại cũng không có nội dung nào lại không tồn tại 
trong một hình thức xác định. Nội dung nào có hình thức đó. 
Nội dung và hình thức không tồn tại tách rời nhau, nhưng không phải vì 
thế mà lúc nào nội dung và hình thức cũng phù hợp với nhau. Không phải một 
nội dung bao giờ cũng chỉ được thể hiện ra trong một hình thức nhất định, và 
một hình thức luôn chỉ chứa một nội dung nhất định, mà một nội dung trong 
quá trình phát triển có thể có nhiều hình thức thể hiện, ngược lại, một hình hệ 
thốngức có thể thể hiện nhiều nội dung khác nhau. Thí dụ, quá trình sản xuất 
ra một sản phẩm có thể bao gồm những yếu tố nội dung giống nhau như: con 
người, công cụ, vật liệu nhưng cách tổ chức, phân công trong quá trình sản 
xuất có thể khác nhau. Như vậy, nội dung quá trình sản xuất được diễn ra 
dưới những hình thức khác nhau. Hoặc cùng một hình thức tổ chức sản xuất 
như nhau nhưng được thực hiện trong những ngành, những khu vực, với 
những yếu tố vật chất khác nhau, sản xuất ra những sản phẩm khác nhau. Vậy 
là một hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung khác nhau. 
b. Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức trong quá trình 
vận động phát triển của sự vật 
Vì khuynh hướng chủ đạo của nội dung là biến đổi, còn khuynh hướng 
chủ đạo của hình thức là tương đối bền vững, chậm biến đổi hơn so với nội 
dung. Dưới sự tác động lẫn nhau của những mặt trong sự vật, hoặc giữ các sự 
vật, với nhau trước hết làm cho các yếu tố của nội dung biến đổi trước; còn 
những mối liên kết giữa các yếu tố của nội dung, tức hình thức thì chưa biến 
đổi ngay, vì vậy hình thức sẽ trở nên lạc hậu hơn so với nội dung và sẽ trở 
thành nhân tố kìm hãm nội dung phát triển. Do xu hướng chung của sự phát 
triển của sự vật, hình thức không thể kìm hãm mãi sự phát triển của nội dung 
 4
mà sẽ phải thay đổi cho phù hợp với nội dung mới. Ví dụ, lực lượng sản xuất 
là nội dung của phương thức sản xuất còn quan hệ sản xuất biến là hình thức 
của quá trình sản xuất. Quan hệ sản xuất biến đổi chậm hơn, lúc đầu quan hệ 
sản xuất còn là hình thức thích hợp cho lực lượng sản xuất. Nhưng do lực 
lượng sản xuất biến đổi nhanh hơn nên sẽ đến lúc quan hệ sản xuất lạc hậu 
hơn so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sẽ trở thành yếu tố 
kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển. Để mở đường cho lực lượng sản xuất 
phát triển, con người phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất 
mới phù hợp với lực lượng sản xuất. Như vậy sự biến đổi của nội dung quy 
định sự biến đổi của hình thức. 
c. Sự tác động trở lại của hình thức đối với nội dung 
Hình thức do nội dung quyết định nhưng hình thức có tính độc lập 
tương đối và tác động trở lại nội dung. Sự tác động của hình thức đến nội 
dung thể hiện ở chỗ: Nếu phù hợp với nội dung thì hình thức sẽ tạo điều kiện 
thuận lợi thúc đẩy nội dung phát triển; nếu không phù hợp với nội dung thì 
hình thức sẽ ngăn cản, kìm hãm sự phát triển của nội dung. 
II. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CỦA PHẠM TRÙ "NỘI DUNG- HÌNH THỨC" 
TRONG VẤN ĐỀ THƯƠNG HIỆU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. 
1. Thương hiệu là gì? 
Thương hiệu là kết quả của sự hoàn thiện của nhãn hiệu khi đã được 
đăng ký bảo hộ bản quyền. Nó là tên của một sản phẩm của doanh nghiệp để 
giúp phân biệt rõ ràng vị thế của sản phẩm trên thị trường. Nó là công cụ hữu 
hiệu để khách hàng nhận biết được sự tồn tại của sản phẩm và có ý định sử 
dụng sản phẩm. 
Dưới giác độ kinh tế có thể thấy dấu hiệu đặc trưng của thương hiệu là: 
a. Là các dấu hiệu hay một loại dấu hiệu (từ ngữ, hình vẽ, số, hình 
ảnh) hoặc tổng hợp các dấu hiệu này gắn với hàng hoá hoặc dịch vụ, là biểu 
hiện bên ngoài. 
 5
b. Dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của một (hay một nhóm) người 
này với hàng hoá dịch vụ của một (hay một nhóm) người khác. 
c. Thương hiệu như vậy có cả nội dung vật chất và hình thức, nó hiển 
hiện trong quan hệ cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp hoặc doanh 
nghiệp. 
2. Giá trị của thương hiệu 
Có nhiều giác độ để đánh giá nhận thức về giá trị của thương hiệu, 
những nét chung của giá trị thương hiệu là: 
Giảtị hữu hình: Tổng thu nhập thêm từ sản phẩm có nhãn hiệu cao hơn 
thu nhập từ sản phẩm cùng loại nhưng không có thương hiệu. Giá bán khác 
nhau chính là giá trị của thương hiệu. 
Giá trị vô hình: đi với sản phẩm không thể tính bằng tiền hoặc con số 
cụ thể mà quan con đường tiếp thị tạo nhu cầu ở người tiêu dùng luôn muốn 
trả giá cao hơn cho những sản phẩm có tên tuổi so với những sản phẩm khác 
tuy chúng đều có chất lượng tốt như nhau. 
Sự nhận thức về chất lượng: Nhận thức tổng quát của người tiêu dùng 
về chất lượng và hình ảnh đối với sản phẩm. Qua nhiều năm tiếp thị, xây 
dựng hình ảnh, chăm sóc thương hiệu và sản xuất theo chất lượng, Công ty đã 
hướng người tiêu dùng đến chỗ nhận thức rằng tất cả sản phẩm do Công ty 
sản xuất đều có chất lượng tuyệt hảo. Ví dụ: người tiêu dùng đều nhận thức 
rằng Mercedes và BMW là những loại ô tô có chất lượng cao nhất so với nhãn 
hiệu ô tô khác cho dù nhận thức này không có gì là bảo đảm. 
3. Thực trạng xây dựng thương hiệu ở Việt Nam 
Sau khi có nhiều sự kiện liên quan đến việc chống bán phá giá: triển 
khai thực hiện hiệp định thương mại Việt - Mỹ: việc cấm dùng và quảng cáo 
nhãn hiệu có từ catfish: một số nhãn hiệu hàng hoá của Việt Nam bị các 
doanh nhân nước ngoài đăng ký ở nước ngoài, tình trạng tranh chấp nhãn 
hiệu: tình trạng hàng giả ngày càng tinh vi tất cả những tác động này đã tạo 
nên một áp lực lớn trong xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ 
 6
quan quản lý Nhà nước đều vào cuộc. Từ cuối năm 2001 đến nay, thương 
hiệu trở thành vấn đề thời sự của đời sống kinh tế thương mại, ngày càng 
giành được sự quan tâm của giới doanh nghiệp và doanh nhân trong nước. 
Trong xu thế kinh doanh hiện nay thì bên cạnh việc: sản xuất, chất 
lượng hàng hoá hay dây chuyền kỹ thuật công nghệ.. (quá trình hoạt động bên 
trong của doanh nghiệp) là phải ưu tiên hàng đầu chú trọng đặc biệt thì hình 
thức bề ngoài của doanh nghiệp cũng phải được quan tâm vì đó là bộ mặt của 
cả doanh nghiệp, danh tiếng, sự tín nhiệm để khách hàng đánh giá. Một 
doanh nghiệp mạnh là biết đầu tư chăm chút cả nội dung và hình thức hoạt 
động của mình. Theo như ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù Triết 
học:"nội dung - hình thức" cung đã khẳng định "trong nhận thức và hành 
động phải thống nhất giữa nội dung và hình thức không được tách rời nhau, 
tuyệt đối hoá một mặt đặc biệt là đề phòng rơi vào chủ nghĩa hình thức. 
VD: Thương hiệu của Tổng Công ty bảo hiểm "Bảo việt" 
Trải qua 40 năm trưởng thành và phát triển, thương hiệu "Bảo việt" 
cùng với Logo của thương hiệu đã trở nên quen thuộc và dễ nhận biết trong 
cộng đồng doanh nghiệp và dân cư Việt Nam được hàng triệu khách hàng tin 
tưởng và thuỷ chung theo cùng năm tháng 
Công ty bảo hiểm Việt Nam được thành lập theo quyết định số 179CP 
ngày 17/12/1964. Lô gô của Công ty bảo hiểm Việt Nam và tên viết tắt "Bảo 
Việt" cũng được nghiên cứu và áp dụng từ khi công ty bắt đầu đi vào hoạt 
động: Logo của Bảo Việt được thiết kế theo hình tròn, theo quan niệm Á 
Đông hình tròn tượng trưng và phát triển. Màu sắc trên lôgo thể hiện các mẫu 
truyền thống và mang tính bản sắc và các triết lý kinh doanh của Bảo Việt. 
 7
Màu vàng ở trung tâm thể hiện sự thịnh vượng và thành đạt, mầu xanh bao 
quanh là niềm tin về sự đảm bảo an toàn, mầu trắng thể hiện sự minh bạch 
trong hoạt động kinh doanh. Phương châm hoạt động "Phục vụ khách hàng tốt 
nhất để phát triển" được thực hiện thống nhất trong toàn hệ thống thể hiện 
quan điểm coi khách hàng là trung tâm của mọi hoạt động và cũng từ đây, 
thương hiệu Bảo Việt ngày càng chiếm được lòng tin của hàng triệu khách 
hàng thuộc nhiều thành phần kinh tế, tầng lớp dân cư. 
Xét về hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận trước thuế toàn Bảo Việt tăng 
trưởng 18,2% so với năm 2003. Nộp ngân sách tăng 7,4% so với năm 2003. 
Những kết quả trên cho thấy, những mục tiêu tăng trưởng và hiệu quả của 
Bảo Việt đã đề ra từ đầu năm về cơ bản đều đạt được. Hoạt động đầu tư tài 
chính đã góp phần tăng thu nhập hoạt động tài chính, đáp ứng nhu cầu về vốn 
cho đầu tư phát triển kinh tế. Bảo Việt đã chú trọng đầu tư dài hạn phục vụ 
các chương trình phát triển mục tiêu của Chính phủ. Hoạt động đầu tư tuân 
thủ quy định của pháp luật, đáp ứng yêu cầu an toàn, hiệu quả, khả năng 
thanh toán và trả tiền bảo hiểm cho khách hàng, góp phần nâng cao uy tín và 
thương hiệu của Bảo Việt trên thị trường. 
Tuy nhiên hiện nay không phải công ty Việt Nam nào cũng coi trọng 
thương hiệu. Hoặc chỉ coi trọng một phần chưa đầy đủ nghĩa là chưa coi trọng 
vấn đề hình thức. Ví như có công ty đăng ký sở hữu công nghiệp thương hiệu, 
nhưng sau đó chẳng để ý phát triển thương hiệu như thế nào, bằng cách nào. 
Có công ty đầu tư rất đại khái cho thương hiệu. Vì thế đa phần các thương 
hiệu của sản phẩm Việt Nam được người tiêu dùng biết lờ mờ. Chủ yếu qua 
thói quen tiêu dùng, quan kinh nghiệm chứ chưa hẳn vì công ty sở hữu 
thương hiệu đầu tư bài bản. Một nhận xét khá xác đáng cho rằng lâu nay các 
doanh nghiệp Việt Nam cho rằng nhãn hiệu hay thương hiệu chỉ là chuyện thứ 
yếu. Bốn vấn đề cơ bản trong tiếp thị là: sản phẩm, giá cả, phân phối, và 
khuyếch trương thường được doanh nghiệp quan tâm hơn. Tuy ngay cả bốn 
vấn đề cơ bản này cũng chưa được quan tâm đầy đủ. Trong khi đó, xu hướng 
 8
kinh doanh và quản trị kinh doanh trên thế giới hiện nay lại cho rằng nhãn 
hiệu là vấn đề bao trùm lên tất cả. Việc quản lý nhãn hiệu ở Việt Nam hiện 
được quy về thiết kế một nhãn hiệu của sản phẩm nhiều hơn là làm thế nào để 
cho nhãn hiệu ấy trở thành một thương hiệu hấp dẫn và lôi quấn người tiêu 
dùng, thu lợi nhuận về cho doanh nghiệp. Theo các chuyên gia nếu quản lý 
nhãn hiệu thành công, nó sẽ trở thành "Bất tử" vượt qua thời gian. Nó có khả 
năng tồn tại đáng ngạc nhiên trên thị trường đầy biến động với những mức độ 
cạnh tranh khốc liệt nhất. Nhãn hiệu thậm chí có thể tồn tại lâu hơn hàng hoá. 
Nhận định trên là hoàn toàn đúng vì trong mối quan hệ biện chứng giữa 
nội dung và hình thức đã khẳng định rằng:"Nội dung thường biến đổi nhanh 
còn hình thức tương đối ổn định". Vì thế nó là một tài sản vô hình cố định mà 
từ đó, các công ty sở hữu có thể thu về lợi nhuận siêu ngạch. Để có thể có một 
thương hiệu hay một nhãn hiệu tốt cho công ty mình, các doanh nghiệp Việt 
Nam đầu tư thiết kế các logo đẹp, bắt mắt, thích hợp mang tính biểu trưng cho 
sản phẩm. Kế đó là đăng ký sở hữu công nghiệp. Thúc đẩy đa dạng hoá sản 
phẩm cũng như gia tăng chất lượng sản phẩm là việc rất quan trọng góp phần 
phát triển thương hiệu. Khuyếch trương thương hiệu bằng các hình thức 
quảng cáo đa dạng và thích hợp. Nên mạnh dạn chi cho quảng cáo để làm cho 
thương hiệu phổ biến ngày càng rộng rãi hơn. Tất nhiên, cần tập chung nâng 
cao chất lượng quảng cáo có tính định hướng vào khách hàng và phù hợp với 
văn hoá của người tiêu dùng. Các doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu đầy đủ 
về các hành vi của khách hàng để có một chiến lượng phát triển "Thương 
hiệu" hiệu quả. 
VD: Công ty bánh kẹo Kinh Đô 
 9
Với hàng trăm nhãn hiệu, các loại bánh kẹo của Kinh Đô đang thực sự 
chinh phục người tiêu dùng trong và ngoài nước bởi mẫu mã, kiểu dáng, chất 
lượng và giá cả phù hợp với túi tiền của mọi tầng lớp xã hội Kinh Đô đã trở 
thành doanh nghiệp tư nhân làm ăn có hiệu quả trong ngành công nghiệp sản 
xuất bánh kẹo tại Việt Nam. 
Năm 1993 và những năm trước, mặt hàng bánh snack của Thái Lan, 
Malasia tràn lan thị trường trong nước, với giá khá cao mà người tiêu dùng 
vẫn rất ưu chuộng. Đứng trước nghịch lý đó, công ty TNHH xây dựng và chế 
biến thực phẩm Kinh Đô, nay đổi thành Công ty Cổ phần Kinh Đô (gọi tắt là 
Kinh Đô) đã mày mò nghiên cứu và cho ra đời sản phẩm bánh Snack made in 
Việt Nam. Việc đưa ra thị trường mặt hàng mới này với giá rẻ hơn một nửa 
giá nhập ngoại cùng loại, chất lượng cao, mẫu mã, bao bì đẹp đã bước đầu 
đảy lùi cơn "sốt" bánh Snack nhập ngoại ra khỏi thị trường Việt Nam, tạo 
bước đột phá cho việc khẳng định thương hiệu Kinh Đô. 
Kinh Đô còn luôn đem lại cho khách hàng những thuận lợi trong khâu 
phục vụ, thể hiện qua sự dễ mua, nhiều chọn lựa cho khách hàng. Đây hẳn 
không phải là những điều gì mới mẻ trên thương trường chỉ có điều Kinh Đô 
đã biết bứt ra khỏi vòng suy nghĩ cũ để nhanh chóng và mạnh dạn nắm bắt 
những bí quyết "mở". 
Chỗ đứng vững chắc của sản phẩm Kinh Đô được khẳng định qua các 
cuộc bình chọn của người tiêu dùng về giải thưởng: "hàng Việt Nam chất 
lượng cao" "cúp vàng Marketing" cùng nhiều giải thưởng khác, đó chính là 
những phần thưởng xứng đáng nhất dành cho Kinh Đô. 
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU 
Ở VIỆT NAM . 
* Phương hướng phát triển 
Muốn giành thắng lợi trong cạnh tranh phải phát triển thương hiệu và 
bảo đảm tính bền vững trong xây dựng và phát triển thương hiệu. Do đó 
doanh nghiệp cần tập trung vào các vấn đề sau: 
 10
a.Về nhận thức: Có nhận thức đúng và đầy đủ về thương hiệu. Nội 
dung của nó là tạo ra những nhận thức thống nhất trong toàn doanh nghiệp đòi 
hỏi doanh nghiệp phải có một chiến lược về xây dựng, phát triển, quảng bá và 
bảo vệ thương hiệu ngay trong thị trường nội địa.Từ đó có định hướng trong 
việc triển khai ở thị trường nước ngoài. 
Trong nhận thức về thương hiệu cần chú ý đến một số khía cạnh: 
- Coi thương hiệu là một cái chung, song cần phải thấy các hình thức 
biểu hiện của nó, không nên đồng nhất nó làm một. 
- Các tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, biểu tượng kinh doanh 
(logo) phải phù hợp với nhu cầu, ước muốn, tính cách của người mua, có 
sự khác biệt với nhãn hiệu hàng hoá của đối thủ cạnh tranh 
- Các Công ty kinh doanh hàng hoá hoặc dịch vụ chuyên môn hoá sâu 
hoặc kinh doanh các lĩnh vực mà hàng hoá hay dịch vụ gần hoặc có tính bổ 
trợ, thay thế cần phải thấy đặc điểm này để đưa ra dấu hiệu để phân biệt 
giữa các nhãn hiệu với nhau. 
- Với các loại hình kinh doanh nhiều ngành hàng, đáp ứng cho nhiều 
loại đối tượng, thì doanh nghiệp cần thiết kế xây dựng một tập các nhãn hiệu 
hàng hoá phù hợp với từng loại sản phẩm từng nhóm đối tượng. 
b. Cần có thiết chế phù hợp có chiến lược về thương hiệu, về tiếp thị. 
Muốn biến nhận thức này thành hiện thực, phải có thiết chế - phải có bộ 
phận chuyên trách về thương hiệu. Bộ phận này làm cả việc xây dựng và phát 
triển thương hiệu. Điều này đòi hỏi mỗi chủ sở hữu thương hiệu phải luôn tìm 
cách hoàn thiện chất lượng, hình thức sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho thị 
trường làm cơ sở củng cố uy tín thương hiệu. 
Chiến lược phát triển thương hiệu phải bao hàm các nội dung sau: 
+ Xác định đối tượng khách hàng mục tiêu 
+ Có quan hệ với chiến lược sản phẩm, quảng bá chính sách, giá 
 11
+ Các vấn đề phân phối sản phẩm Kết quả là chiến lược thương hiệu 
nhằm tạo cho doanh nghiệp và sản phẩm hàng hoá, dịch vụ một hình ảnh 
trong khách hàng, trong tương quan với các đối thủ cạnh tranh. 
c. Thực hiện đăng ký bảo hộ thương hiệu 
Thông qua đăng ký bảo hộ thương hiệu doanh nghiệp mới sử dụng 
được công cụ pháp luật hỗ trợ mình trong kinh doanh, bảo vệ được quyền sở 
hữu với thương hiệu của doanh nghiệp và doanh nhân. 
d. Thường xuyên nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, có hệ 
thống phân phối dịch vụ, sản phẩm tốt. 
Chất lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ là một chỉ tiêu tổng hợp, được 
thể hiện trên rất nhiều mặt, do vậy, tuỳ theo nhu cầu, thị trường mà chọn các 
chỉ tiêu chất lượng có chiến lược nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ có 
hiệu quả. 
Cùng với hoạt động này, doanh nghiệp cần thiết lập hệ thống phân phối 
thích hợp là cầu nối giữa cung và cầu làm cung gắn chặt với cầu là con đường 
đưa thương hiệu và sản phẩm đến với người tiêu dùng. Chăm lo tổ chức hệ 
thống phân phối thích hợp là một nhân tố bảo đảm tính bền vững trong phát 
triển thương hiệu. 
e. Công tác quản lý thương hiệu mang tính chuyên nghiệp và có hiệu 
quả. 
Trong kinh doanh, doanh nghiệp luôn sử dụng nhiều loại nhãn hiệu - 
một tập các dấu hiệu tiếp thị. Chỉ có thực hiện quản trị có tính chuyên nghiệp 
và hiệu quả mới thực hiện quản trị nhất quán với các dấu hiệu tiếp thị (trong 
đó có nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại) Trên cơ sở đó, doanh nghiệp có 
điều kiện phân định và thực hiện quản trị thống nhất ổn định, từ đó phát huy 
tác dụng của công cụ thương hiệu. 
Đảm bảo uy tín và hình ảnh thương hiệu được nâng cao không ngừng 
trong lòng người tiêu dùng, doanh nghiệp cần phải chú ý đến các vấn đề có 
liên quan đó là: 
 12
+ Phải khắc sâu vào nhận thức của người tiêu dùng về thương hiệu của 
mình so với các đối thủ cạnh tranh thông qua các kênh đưa thông tin đến 
người tiêu dùng nhằm chuyền tải đến người tiêu dùng các thông tin về vị trí 
của thương hiệu, chất lượng và công dụng sản phẩm dịch vụ 
+ Xây dựng, duy trì, phát triển mối quan hệ qua lại với người tiêu dùng 
sử dụng tạo nên sự gắn bó chặt chẽ giữa thương hiệu và người sử dụng, tiêu 
dùng nó. 
+ Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và phát triển, từ đó bảo đảm sự ổn 
định phát triển của thương hiệu. Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ cũng cần 
phải chú ý đến công tác này. Tuy yêu cầu của mỗi doanh nghiệp có sự xác 
định đầu tư cho phù hợp với hoạt động này. 
+ Đảm bảo dịch vụ thương mại và sau bán hàng dành cho người tiêu 
dùng. Đây là cái bảo đảm quan trọng cho sự ổn định trong phát triển của 
thương hiệu. Hiện nay, có một biểu hiện rất đang ngại là công tác này các 
doanh nghiệp Việt Nam rất ít chú ý - đây là nguyên nhân quan trọng làm giảm 
sức cạnh tranh của hàng hoá doanh nghiệp Việt Nam. 
C. KẾT LUẬN 
Trong xu thế kinh doanh hiện nay thì "thương hiệu" đóng vai trò rất 
lớn, quyết định đến sự thành công của doanh nghiệp. Nó giúp cho người tiêu 
dùng qua đó có thể biết đến doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp hay 
là cầu nối giữ doanh nghiệp với khách hàng. Nó còn tạo cho doanh nghiệp 
một hình ảnh vững chắc trong tiềm thức khách hàng và thể hiện sự lớn mạnh 
của doanh nghiệp trên thị trường. Điều đó cũng dễ hiểu vì để sở hữu được 
một "thương hiệu" nổi tiếng thì không hề đơn giản, là kết tinh của biết bao 
sức lực, trí tuệ của doanh nghiệp. Tuy nhiên các doanh nghiệp Việt Nam lại 
chưa quan tâm đến các vấn đề này hoặc chưa chọn vẹn. Mong rằng các doanh 
nghiệp cần có cái nhìn đứng đắn hơn để có thể có được những phương án cụ 
 13
thể hơn cho quá trình xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp mình cho hiện 
tại, cho tương lai sau này khi mà trên thị trường chỉ có mua bán trên thương 
hiệu. 
 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Sách Triết học Mác - Lênin 
2. Tạp chí Thương mại 
3. Thời báo kinh tế Việt Nam 
 15
MỤC LỤC 
A. LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................... 01 
B. PHẦN NỘI DUNG .............................................................................. 02 
I. LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC MÁC VỀ CẶP PHẠM TRÙ "NỘI DUNG - 
HÌNH THỨC" ................................................................................................... 02 
1.Khái niệm nội dung và hình thức ...................................................... 02 
2. Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức ....................... 02 
II. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CỦA CẶP PHẠM TRÙ "NỘI DUNG - HÌNH 
THỨC" TRONG VẤN ĐỀ THƯƠNG HIỆU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............... 04 
1.Thương hiệu là gì............................................................................... 04 
2. Giá trị của thương hiệu ..................................................................... 05 
3. Thực trạng xây dựng thương hiệu ở Việt Nam ................................ 05 
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG 
HIỆU Ở VIỆT NAM ......................................................................................... 09 
C. KẾT LUẬN......................................................................................... 12 

File đính kèm:

  • pdftieu_luan_van_dung_cap_pham_tru_noi_dung_hinh_thuc_trong_van.pdf
Ebook liên quan