Sự hình thành tư tưởng hợp đồng hành chính và vai trò của hợp đồng hành chính trong quản lý nhà nước

Tóm tắt Sự hình thành tư tưởng hợp đồng hành chính và vai trò của hợp đồng hành chính trong quản lý nhà nước: ...1-10 4 lực sản xuất xã hội, giảm bớt gánh nặng tài chính cho nhà nước và là bước ngoặt đánh dấu một sự thay đổi nhận thức của toàn xã hội khỏi những giáo điều về chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy, mà nhiều tổ chức thực hiện dịch vụ công xuất hiện và cũng xuất hiện nhiều loại hợp đồng nh... kết thỏa thuận. Hay giữa một bên là chính quyền cùng với tập thể lao động ký kết “thỏa ước tập thể”, hay “thỏa ước lao động”, nhưng cũng không có bất kỳ một sự ràng buộc nào về mặt pháp lý, thường được ký kết rất long trọng, nhưng lại không được bảo đảm về mặt pháp lý, có nghĩa là chưa ...hợp đồng hành chính từ góc nhìn luật học, có thể nói là khoa học luật học chưa phát triển, theo kịp sự vận động phát triển của các quan hệ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi mà các quan hệ trong lĩnh vực công, tư luôn thay đổi, vận động không ngừng. Nhà nước ...

pdf10 trang | Chia sẻ: havih72 | Ngày: 04/09/2021 | Lượt xem: 82 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Sự hình thành tư tưởng hợp đồng hành chính và vai trò của hợp đồng hành chính trong quản lý nhà nước, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
iên cứu về hợp đồng hành chính còn rất 
khiêm tốn. 
Đối với các chuyên gia pháp luật được đào 
tạo theo trường pháp pháp luật Xô viết – pháp 
luật xã hội chủ nghĩa thường cũng chỉ quan tâm 
tới những hợp đồng truyền thống trong lĩnh vực 
dân sự, kinh tế, thương mại, lao động, đó là 
những hợp đồng mà các bên trong quan hệ hoàn 
P.H. Thái / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 31, Số 1 (2015) 1-10 5 
toàn tự do ý chí trong khuôn khổ pháp luật để 
ký kết các hợp đồng, các bên trong quan hệ hợp 
đồng hoàn toàn bình đẳng với nhau, không bên 
nào có ưu thế hơn bên khác trong quan hệ. Mà 
chưa có những nghiên cứu một cách căn bản về 
hợp đồng hành chính. Điều này có nguyên nhân 
khách quan của nó là trong điều kiện của chủ 
nghĩa xã hội, trong cơ chế kế hoạch hóa tập 
trung, quan liêu, bao cấp, việc cung ứng các 
dịch vụ công cho xã hội do nhà nước, các doanh 
nghiệp, hay tổ chức nhà nước cung ứng, nhà 
nước bằng quyết định hành chính giao cho các 
tổ chức của nhà nước thực hiện bằng những chỉ 
tiêu pháp lệnh. Cơ quan hành chính là người tối 
cao quyết định mọi hoạt động của các doanh 
nghiệp, đơn vị sự nghiệp cả khâu sản xuất và 
khâu lưu thông, phân phối hàng hóa. Trong điều 
kiện như vậy khó có mảnh đất cho những tư 
duy về hợp đồng hành chính, cho tư duy chuyển 
những công việc của nhà nước cho cá nhân, hay 
pháp nhân phi quốc doanh thực hiện. Vì vậy, 
mà nhiều thế hệ các chuyên gia pháp luật Việt 
Nam cũng không quen với ngay cả thuật ngữ 
hợp đồng hành chính. Tuy vậy, cũng phải nhìn 
nhận một cách khách quan là do sự thay đổi của 
chế độ Hiến pháp, chế độ sở hữu về tư liệu sản 
xuất ở nước ta qua các giai đoạn lịch sử. Thời 
kỳ đầu mới lập nước, sau Cách mạng Tháng 
Tám thành công, việc cung ứng một số dịch vụ 
công có thể do thành phần kinh tế phi nhà nước 
đảm nhiệm, đó là sự xuất hiện, tồn tại của 
những trường tư thục – trường dân lập để thực 
hiện chương trình giáo dục mầm non, mẫu giáo, 
thậm chí là những năm đầu của giáo dục tiểu 
học (dạy vỡ lòng, lớp 1, lớp 2)... Về sau thì 
những thiết chế này không còn tồn tại nữa. Điều 
đặc biệt là trong pháp luật, Sắc lệnh số 63/SL 
ngày 22/11/1945 và Sắc lệnh số 77 ngày 
21/12/1945 đã sử dụng thuật ngữ “cho thầu 
công vụ”, phải chăng là những công việc của 
nhà nước được đưa ra đấu thầu. Như vậy, về 
mặt pháp lý nhà nước có thể chuyển những 
công vụ nhà nước cho cá nhân, tổ chức ngoài 
nhà nước thực hiện thông qua cơ chế đấu thầu, 
cơ chế giao kết một hợp đồng. Rất tiếc là những 
vấn đề này cũng không được ai nghiên cứu 
tiếp theo và chắc chắn nó ít được áp dụng 
trong thực tiễn. 
Vào những năm chín mươi của thế kỷ qua, 
trong các giáo trình Luật hành chính ở các cơ sở 
đào tạo, các chuyên gia pháp luật, chuyên gia 
hành chính ở Miền Bắc khi đề cập tới hợp đồng 
hành chính cũng chỉ rất ngắn gọn, đơn giản coi 
thỏa thuận trong hành chính là một phương 
pháp của luật hành chính trong điều chỉnh quan 
hệ phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính 
nhà nước khi giữa hai cơ quan hành chính cùng 
cấp ban hành thông tư liên tịch, hay giữa các cơ 
quan chính quyền địa phương cùng nhau thỏa 
thuận “ban hành” một văn bản với tên gọi “thỏa 
thuận” hay “nghị quyết” để cùng nhau giải 
quyết một vấn đề chung nào đó thuộc trách 
nhiệm của hai địa phương. Tuy vậy, trong thực 
tiễn cũng không có bất kỳ một sự ràng buộc nào 
giữa các bên ký kết thỏa thuận. Hay giữa một 
bên là chính quyền cùng với tập thể lao động ký 
kết “thỏa ước tập thể”, hay “thỏa ước lao 
động”, nhưng cũng không có bất kỳ một sự 
ràng buộc nào về mặt pháp lý, thường được ký 
kết rất long trọng, nhưng lại không được bảo 
đảm về mặt pháp lý, có nghĩa là chưa có cơ sở 
pháp lý để bảo đảm cho nó được thực hiện. Mặt 
khác, trong các giáo trình cũng chỉ đề cập tới 
phương pháp thỏa thuận trong hành chính như 
là một phương pháp của quản lý nhà nước mới 
xuất hiện bên cạnh biện pháp truyền thống 
trong hành chính là phương pháp: mệnh lệnh, 
quyền lực – phục tùng, mà chưa hề có bất kỳ 
một định nghĩa, giải thích nào về hợp đồng 
hành chính. Trong khi đó, ở Miền Nam trước 
năm 1975 tiếp thu các tri thức của phương Tây, 
P.H. Thái / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 31, Số 1 (2015) 1-10 
6 
Anh- Mỹ và cũng do thực tiễn kinh tế - xã hội ở 
Miền Nam cũng phát triển hơn ở Miền Bắc 
trong nhiều lĩnh vực, kể cả lĩnh vực cung ứng 
dịch vụ công, do đó trong một số giáo trình 
Luật hành chính trước và sau năm 1975 ở Miền 
Nam cũng đã đề cập tới hợp đồng hành chính ở 
những nét khá cơ bản. Ví dụ: Trong cuốn Luật 
hành chánh do Nguyễn Độ biên soạn (loại sách 
Hồng – Đức) Sài gòn 1969 cũng đã đề cập tới 
khế ước hành chính. Trong đó đề cập đến quan 
niệm của các chuyên gia luật tư và luật công về 
khế ước hành chính; theo tác giả sự ra đời của 
hợp đồng hành chính là do “nhu cầu kỹ thuật 
cho một sự hợp tác đặc biệt về công vụ giữa 
một cơ quan hành chính và một tư nhân...” [2], 
đồng thời cũng đã bước đầu chỉ ra một số đặc 
điểm của hợp đồng hành chính, tuy vậy cũng 
không đưa ra định nghĩa khoa học về hợp 
đồng hành chính và tất cả những vấn đề 
trong giáo trình này cũng còn rất sơ khai chỉ 
có một vài trang. 
Trong giáo trình Luật hành chính do Cẩn 
Chi soạn thảo năm 1992, phục vụ cho đào tạo 
các chuyên gia pháp luật ở Miền Nam cũng 
giành một phần viết về khế ước hành chính, 
trong đó phân biệt hợp đồng hành chính với 
hợp đồng quản trị, đồng thời cũng đã bước đầu 
xác định một số loại hợp đồng hành chính ở 
nước ta và đưa ra một số tiêu chí để phân biệt 
hợp đồng hành chính với hợp đồng dân sự, con 
đường giải quyết tranh chấp hợp đồng hành 
chính khi xảy ra bằng tòa án hành chính. Tuy 
rằng, ở Việt Nam khi đó chưa trao cho Tòa án 
chức năng xét xử các vụ án hành chính (ngoại 
trừ trường hợp xét xử khi có khiếu kiện về lập 
danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, đại 
biểu Hội đồng nhân dân, hay giải quyết tranh 
chấp lao động giữa cán bộ, công chức, viên 
chức với cơ quan nhà nước), vì vậy những vấn 
đề lý luận đưa ra trong giáo trình này cũng chủ 
yếu dựa vào tri thức của nước ngoài, mà chưa 
có cơ sở pháp lý, vì pháp luật Việt Nam cho 
đến tận ngày nay cũng chưa sử dụng thuật ngữ 
“hợp đồng hành chính”. 
Các nhà kinh tế Việt Nam vào đầu những 
năm chín mươi cũng đã quan tâm tới “hợp đồng 
hành chính” và việc sử dụng chúng trong quản 
lý nhà nước. Trong “Từ điển giải thích thuật ngữ 
hành chính” do GS. Mai Hữu Khuê chủ biên [3] 
cũng đã bước đầu đưa ra định nghĩa về hợp đồng 
hành chính, tuy còn rất sơ khai, đơn giản. 
Đề tài khoa học, “Hợp đồng hành chính và 
việc áp dụng vào quản lý nhà nước về kinh tế” 
do thạc sỹ Đào Đăng Kiên làm chủ nhiệm đề 
tài, Học viện Hành chính Quốc gia năm 2002, 
có thể nói đây là lần đầu tiên một đề tài cấp Bộ 
đã được thực hiện. Trong đó cũng đã đưa ra 
quan niệm về hợp đồng hành chính, nhưng còn 
mới chỉ là sự mô tả, chưa mang tính khái quát 
khoa học cao. Trong công trình này, tác giả 
cũng đưa ra các tiêu chí về hợp đồng hành 
chính, chỉ ra một số đặc trưng của hợp đồng 
hành chính, phân biệt hợp đồng hành chính với 
hợp đồng kinh tế, dân sự và cũng đã đề cập tới 
một số loại hợp đồng hành chính ở Việt Nam. 
Tuy vậy, những khía cạnh pháp lý của các loại 
hợp đồng ít được tác giả quan tâm làm rõ. Mặt 
khác nhiều vấn đề nghiên cứu cũng chủ yếu dựa 
vào tài liệu của các học giả nước ngoài, nên có 
những ý kiến đưa ra mang tính chất chủ quan, 
chưa có cơ sở thực tiễn ở Việt Nam. Ngay 
chính trong đề tài này cũng không xem xét phân 
tích một cách cụ thể, xác đáng về một loại hợp 
đồng nào đó đã được sử dụng ở Việt Nam và 
được gọi là hợp đồng hành chính, mặc dù trong 
công trình này có đưa ra một số ví dụ cụ thể để 
minh họa về hợp đồng hành chính. 
Giáo trình Luật hành chính Việt Nam – 
Khoa luật năm 2010 do PGS. TS. Nguyễn Cửu 
Việt biên soạn đã giành một mục viết về hợp 
đồng hành chính [4], bước đầu đưa ra quan 
niệm về hợp đồng hành chính, đặc điểm của 
P.H. Thái / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 31, Số 1 (2015) 1-10 7 
hợp đồng hành chính và xác định, phân loại một 
số loại hợp đồng được gọi là hợp đồng hành 
chính, mà theo tác giả là theo tư duy pháp lý 
của các học giả nước ngoài, thì những hợp đồng 
được nêu ra là hợp đồng hành chính. Đây có thể 
được coi là những nghiên cứu cơ bản, đầu tiên 
về hợp đồng chính ở nước ta. 
Năm 2006 PGS.TS. Phạm Hồng Thái công 
bố bài viết "Thầu công vụ- tư tưởng có tính thời 
đại đăng tạp chí Nhà nước và Pháp luật, cũng 
năm đó viết bài: Từ thầu công vụ đến thầu chức 
vụ đăng tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Trong đó 
tập trung luận bàn về tư tưởng “thầu công vụ” 
trong Sắc lệnh số 63 và Sắc lệnh số 77 năm 
1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời và quan 
niệm việc tuyển dụng cán bộ, công chức và bổ 
nhiệm các chức danh trong bộ máy nhà nước 
trên cơ sở thi tuyển cạnh tranh thực chất cũng là 
“thầu các chức vụ”. Cơ quan tuyển dụng, bổ 
nhiệm và người được tuyển dụng, bổ nhiệm, 
hay được bầu thực chất đã ký kết hợp đồng 
hành chính để đảm nhiệm công vụ nhà nước. 
Bài viết đăng tạp chí Luật học tháng 6 năm 
2012 của GS. TS. Phạm Hồng Thái với chủ đề: 
Hợp đồng hành chính – một số vấn đề lý luận, 
tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về 
hợp đồng hành chính. Trên cơ sở phân tích các 
quan điểm của các học giả trong và ngoài nước 
khác nhau về hợp đồng hành chính, tiếp thu các 
quan điểm khoa học và bằng tư duy pháp lý, tác 
giả đưa ra quan niệm khoa học của mình về hợp 
đồng hành chính, chỉ ra được một số đặc điểm 
của hợp đồng hành chính, trên cơ sở phân biệt 
với các hợp đồng pháp lý khác, các loại hợp 
đồng hành chính đã được áp dụng ở Việt Nam 
và nêu ý kiến về việc cần phải thừa nhận hợp 
đồng hành chính trong pháp luật Việt Nam, 
không nên xếp chúng vào hợp đồng kinh tế, hay 
hợp đồng lao động. Ví dụ hợp đồng trong 
nghiên cứu khoa học, hợp đồng với công chức 
ngoại ngạch. 
Như vậy, cho tới nay ở Việt Nam chưa có 
những công trình nghiên cứu chuyên sâu về hợp 
đồng hành chính từ góc nhìn luật học, có thể 
nói là khoa học luật học chưa phát triển, theo 
kịp sự vận động phát triển của các quan hệ 
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội 
chủ nghĩa. Khi mà các quan hệ trong lĩnh vực 
công, tư luôn thay đổi, vận động không ngừng. 
Nhà nước bắt đầu sử dụng những hình thức và 
phương pháp mới trong quản lý nhà nước để 
đáp ứng các yêu cầu của đời sống xã hội, đáp 
ứng việc cung ứng các dịch vụ công cho cá 
nhân, tổ chức, hoặc nhà nước đứng ra “mua các 
dịch vụ” do cá nhân, tổ chức ngoài nhà nước 
cung ứng và nhà nước tiếp tục cung ứng cho 
các cá nhân, tổ chức nhằm đáp ứng yêu cầu 
thiết yếu của cá nhân, hay tổ chức với một mức 
giá nhất định, thấp hơn giá mà cá nhân, tổ chức 
bán dịch vụ cho nhà nước. 
Đây là những nghiên cứu bước đầu về hợp 
đồng hành chính ở Việt Nam, nhưng những 
công trình nêu trên, dù ở mức độ ít nhiều đã 
góp phần mở ra một xu hướng nghiên cứu mới 
cho sự phát triển của khoa học luật học Việt 
Nam về hợp đồng hành chính cả về lý luận và 
thực tiễn, đặc biệt là đặt ra những yêu cầu tiếp 
tục để nghiên cứu phân biệt các loại hợp đồng 
mà các pháp nhân công quyền có thể sử dụng 
trong thực tiễn để đáp ứng yêu cầu của nền 
hành chính trong quản trị đất nước và cung cấp 
các dịch vụ công cho công dân. 
3. Vai trò của hợp đồng hành chính 
Ngày nay trong xu hướng cải cách hành 
chính chuyển từ hành chính điều hành sang 
hành chính phát triển, kinh tế thị trường, định 
hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi cơ quan hành 
chính phải thay đổi phương thức quản lý nhà 
nước bằng hình thức ký kết các hơp đồng hành 
chính. Hợp đồng hành chính thực chất là văn 
P.H. Thái / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 31, Số 1 (2015) 1-10 
8 
bản pháp lý được ký kết giữa các bên tham gia, 
việc ký kết hợp đồng là hình thức hoạt động của 
cá nhân, tổ chức, cơ quan, bởi vì thông qua việc 
ký kết các hợp đồng mà các chủ thể hợp đồng 
tham gia vào những quan hệ xã hội nhất định. 
Trong lĩnh vực hành chính để đạt được mục 
tiêu, mục đích của quản lý, các cơ quan hành 
chính nhà nước (cả những cơ quan khác khi 
thực hiện hoạt động hành chính nhà nước) sử 
dụng chủ yếu phương pháp: mệnh lệnh, quyền 
lực - phục tùng thông qua hoạt động mang tính 
pháp lý – ban hành các quyết định hành chính. 
Nhưng trong một số trường hợp để đạt được 
mục tiêu, mục đích của quản lý, đáp ứng những 
nhu cầu cần thiết cho cộng đồng, bộ máy hành 
chính nhà nước ký kết các hợp đồng khác nhau. 
Trong quan hệ hợp đồng giữa cơ quan nhà nước 
và bên khác trong quan hệ ký kết hợp đồng đều 
có sự thỏa thuận, nhưng trong một số trường 
hợp cơ quan nhà nước lại có những “đặc 
quyền” thể hiện ưu thế đối với bên khác khi xác 
định nội dung hợp đồng, phương thức giải 
quyết tranh chấp hợp đồng. Trong một số 
trường hợp, khi giao kết hợp đồng với các chủ 
thể khác, cơ quan nhà nước đại diện cho công 
quyền - với tư cách là một pháp nhân công 
pháp, hay đại diện cho một pháp nhân công 
pháp để ký kết, chính vì lẽ đó, mà hợp đồng 
hành chính như là cái gạch nối giữa quan hệ 
dân sự, lao động, kinh tế với quan hệ hành 
chính. Chính bằng việc ký kết hợp đồng hành 
chính, các pháp nhân công pháp đáp ứng được 
các nhu cầu cho hoạt động của mình hay vì lợi 
ích cộng đồng, xã hội, công dân. Chính vì lẽ 
này hợp đồng hành chính được xem xét là hình 
thức của hoạt động hành chính nhà nước [5], 
hình thức của quản lý nhà nước. 
Mặt khác, hợp đồng hành chính trở thành 
chuẩn mực điều chỉnh quan hệ giữa pháp nhân 
công pháp - một bên ký kết hợp đồng với bên 
khác trong quan hệ là cá nhân, tổ chức, cơ quan 
công quyền khác để thực hiện những dịch vụ 
công, công vụ nhà nước, hay những công việc 
thuộc nhiệm vụ của nhiều cơ quan cũng phải 
thực hiện. 
Trong công cuộc cải cách hành chính nhà 
nước, việc chuyển từ hành chính truyền thống 
sang nền hành chính công mới, từ nền hành 
chính công mới sang quản lý công mới, hình 
thức và phương pháp hoạt động của các cơ 
quan nhà nước nói chung, cơ quan hành chính 
nhà nước nói riêng có nhiều những thay đổi, 
hợp đồng hành chính ngày càng có ý nghĩa, vai 
trò quan trọng trong đời sống nhà nước và xã 
hội, đặc biệt trong hoạt động hành chính nhà 
nước, được thể hiện ở những điểm sau đây: 
Thứ nhất, sự ra đời của hợp đồng hành 
chính góp phần làm thay đổi phương thức, hình 
thức hoạt động của các cơ quan công quyền, 
đặc biệt là cơ quan hành chính nhà nước. 
Phương pháp mệnh lệnh hành chính (quyết định 
đơn phương của cơ quan hành chính nhà nước) 
được thay dần bằng hợp đồng hành chính trong 
một số trường hơp, qua đó mà quyền, lợi ích 
của cá nhân, tổ chức, nhà nước được bảo đảm. 
Thứ hai, sự ra đời của hợp đồng hành chính 
tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển dịch vụ 
công, tách hoạt động cung ứng dịch vụ công ra 
khỏi hoạt động công quyền nhằm giảm những 
chi phí không cần thiết cho ngân sách nhà nước, 
giảm biên chế trong bộ máy nhà nước, bảo đảm 
tính công khai, minh bạch của hoạt động công 
quyền và hoạt động cung ứng dịch vụ công. 
Thứ ba, với việc sử dụng hợp đồng hành 
chính trong hoạt động hành chính nhà nước làm 
cho công quyền xích lại gần với xã hội dân sự, 
taọ điều kiện cho xã hội dân sự phát triển, tăng 
cường trách nhiệm của các cơ quan công quyền 
với cá nhân, tổ chức, tạo mối quan hệ trách 
nhiệm qua lại giữa nhà nước và công dân. 
P.H. Thái / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 31, Số 1 (2015) 1-10 9 
Thứ tư, khi một số hợp đồng dân sự, lao 
động, hay quyết định hành chính được “chuyển 
hóa” thành hợp đồng hành chính sẽ làm cho 
việc thực hiện hợp đồng được thực thi một cách 
nghiêm minh hơn, bởi tính công quyền của 
pháp nhân công pháp với tư cách là một bên 
trong quan hệ hợp đồng. 
 Thứ năm, việc giải quyết tranh chấp trong 
thực hiện hợp đồng hành chính sẽ bớt gây tổn hại 
về kinh tế, tài chính của nhà nước, cá nhân, tổ chức 
như trong giải quyết tranh chấp dân sự, kinh tế. 
Với quan điểm xây dựng nhà nước pháp 
quyền, tôn trọng và bảo đảm, bảo vệ quyền con 
người, quyền công dân và cải cách hành 
chính ở nước ta hiện nay, phù hợp với xu 
hướng hội nhập, mở cửa để áp dụng chế độ 
hợp đồng hành chính điều quan trọng hiện 
nay ở nước ta là cần phải: 
- Đổi mới tư duy pháp lý, trước hết là của 
giới học thuật để có những nhận thức theo kịp 
với xu hướng phát triển của khoa học pháp lý 
chung trên thế giới, đặc biệt là những nhận thức 
trong lĩnh vực hợp đồng hành chính. Không nên 
chia cắt pháp luật vốn là một thể thống nhất 
thành các mảng có tính chuyên biệt để xem xét, 
không nên tuyệt đối hóa những nhận thức có 
tính truyền thống về hợp đồng, về hành chính 
nhà nước. Hành chính nhà nước cũng chỉ là một 
thiết chế cũng giống như những thiết chế khác 
trong xã hội, có trách nhiệm, nghĩa vụ phục vụ 
nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. 
- Trong khoa học pháp lý Việt Nam cần có 
những nghiên cứu để phân biệt hợp đồng hành 
chính với các hợp đồng truyền thống (dân sự, 
lao động, kinh tế, thương mại). Các nhà khoa 
học Việt Nam, trước hết là các chuyên gia pháp 
luật cần phải tập trung nghiên cứu một cách xác 
đáng về hợp đồng hành chính cả ở phương diện 
lý luận và thực tiễn, coi đây là một định hướng 
của nghiên cứu khoa học Luật Hành chính. 
- Những kết quả nghiên cứu khoa học của 
các nhà khoa học về hợp đồng hành chính sẽ 
lan tỏa, dần tác động đến nhận thức của các nhà 
lập pháp, các nhà hành chính và cả các quan 
tòa, đặc biệt là các nhà hành chính sẽ làm thay 
đổi nhận thức của các nhà hành chính về hình 
thức hoạt động hành chính, làm cho hoạt động 
hành chính nhà nước ngày một năng động, sáng 
tạo, tăng tính trách nhiệm của bộ máy hành chính 
trong quan hệ với cá nhân, tổ chức, xã hội. 
- Để đưa hợp đồng hành chính vào đời sống 
nhà nước và xã hội, điều đặc biệt quan trọng là 
phải hoàn thiện hệ thống pháp luật cả pháp luật 
dân sự, pháp luật lao động, kinh doanh, thương 
mại, pháp luật hành chính. Cần phải tách những 
hợp đồng được xếp vào loại hợp đồng hành 
chính ra khỏi những văn bản quy phạm pháp 
luật quy định về hợp đồng dân sự, hợp đồng lao 
động, hợp đồng kinh tế, thương mại và đặt tên 
cho những hợp đồng loại này là hợp đồng hành 
chính. Việc này có thể được thực hiện bằng 
cách công nhận những hợp đồng nào đó là hợp 
đồng hành chính bằng văn bản quy phạm pháp 
luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoặc 
bằng quyết định của Tòa án qua hoạt động xét 
xử để khẳng định một hợp đồng nào đó là hợp 
đồng hành chính, đặc biệt là khi xét xử các vụ 
án hành chính các Tòa án cần quyết định, khẳng 
định thậm chí một số loại quyết định hành 
chính nào đó mà thực chất chúng là hợp đồng 
hành chính để đưa ra những phán quyết hợp lý 
nhằm bảo vệ quyền của cá nhân, tổ chức khi bị 
quyết định hành chính xâm phạm tới. 
Tài liệu tham khảo 
[1] Xem khoản 4 Điều 85 Sắc lệnh số 63/Sl ngày 
22/11/1945 của Chủ tịch Chinh phủ lâm thời và 
khoản 4 Điều 18 Sắc lệnh số 77 /Sl ngày 21/12/ 
1945 ngày của Chủ tịch lâm thời. 
[2] Nguyễn Độ, Luật hành chánh. Loại sách Hồng- 
Đức, Sài gòn 1969. 
P.H. Thái / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 31, Số 1 (2015) 1-10 
10 
[3] Mai Hữu Khuê chủ biên. Từ Điển giải thích thuật ngữ. 
NXB Lao động Hà Nội, 2002. 
[4] Khoa luật, Luật hành chính Việt Nam, NXB Đại 
học Quốc gia Hà Nội, 2010. 
[5] Xem Luật hành chính Việt Nam. NXB Đại học 
Quốc gia Hà Nội, 2010. 
Formation of the Idea of Administrative Contract and 
the Role of Administrative Contract in State Management 
Phạm Hồng Thái 
VNU School of Law, Hanoi, 114 Xuân Thủy Street, Cầu Giấy, Hanoi, Vietnam 
 Abstract: This paper focuses on the analysis of the formation of administrative contract, the 
perception of administrative contract and the role of administrative contract in state management. The 
author also provides some solutions to apply the administrative contract in Vietnam. 
Keywords: Administrative contract. 

File đính kèm:

  • pdfsu_hinh_thanh_tu_tuong_hop_dong_hanh_chinh_va_vai_tro_cua_ho.pdf