Thực hiện quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả trong hoạt động thông tin - thư viện

Tóm tắt Thực hiện quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả trong hoạt động thông tin - thư viện: ... bảo vệ QTG, bảo hộ SHTT sẽ giúp NSD tiếp nhận được tác phẩm đúng chất lượng họ mong muốn, nhận được thông tin chính xác về tác giả của tác phẩm mà mình sử dụng, từ đó tránh sự giả mạo hoặc giả danh tác phẩm. Hiện nay có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc các TV phải tăng cường thực hiện, phổ ...ông tin rõ ràng về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm. Tại Việt Nam, Điều 25 Luật SHTT và Điều 25 Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định một trong những trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao là “tự sao chép một bản nhằm mục ...c và giới hạn số lượng tư liệu sao chép từ những tác phẩm có bản quyền tại các thư viện. Để tăng số lượng các tư liệu sao chép, các thư viện phải đăng ký với Công ty quản lý bản quyền Copyright Licensing Ltd. (CLL), hoặc phải tìm kiếm giấy phép từ những chủ sở hữu QTG. Trong ấn bản The Copyr...

pdf13 trang | Chia sẻ: havih72 | Ngày: 13/09/2021 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Thực hiện quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả trong hoạt động thông tin - thư viện, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ăn học – Nghệ thuật, tỷ lệ vi 
phạm bản quyền ở Việt Nam rất cao (88%). Trong lĩnh vực công nghệ thông tin 
(CNTT), tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm của Việt Nam ở mức 85% trong năm 
2009 theo đánh giá của BSA (Liên minh phần mềm doanh nghiệp) và IDC (hãng 
nghiên cứu thị trường). Trước nhu cầu bảo hộ QTG trở nên cấp thiết, việc thực hiện 
bảo hộ QTG là một vấn đề đầy thách thức đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 
ngày càng sâu, rộng vào quốc tế. 
Là cơ quan có chức năng văn hóa, giáo dục, thông tin, giải trí, các thư viện (TV) lưu 
giữ và phục vụ khai thác sử dụng nguồn tài nguyên thông tin có bản quyền khác nhau 
như: báo, tạp chí, sách, tài liệu xám, tài liệu nghe nhìn... Do đó, TV phải có trách 
nhiệm bảo vệ và thực thi QTG. Việc thực hiện tốt các vấn đề có liên quan đến QTG sẽ 
giúp TV phát triển theo hướng tiến bộ và hội nhập được với sự nghiệp thư viện thế 
giới. 
Với tư cách là trung tâm sinh hoạt văn hóa, trung tâm mở mang dân trí, nếu TV làm 
tốt trách nhiệm hướng dẫn, tư vấn cụ thể về thực hiện QTG thì người sử dụng (NSD) 
sẽ nghiêm túc tuân thủ trong suốt quá trình sử dụng nguồn tài nguyên thông tin của 
TV. Công việc này không chỉ có ý nghĩa với riêng thư viện mà sẽ góp phần tích cực 
vào việc giáo dục ý thức cho NSD về QTG, nâng cao trình độ văn hóa pháp lý của họ, 
giảm thiểu được tình trạng vi phạm QTG ở Việt Nam. 
Với tư cách là trung tâm thông tin, bằng các sản phẩm và dịch vụ thông tin phục vụ 
đắc lực cho công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, thông báo nhanh 
chóng, kịp thời các thành tựu khoa học và công nghệ (KH&CN) mới nhất trong, ngoài 
nước, nếu các TV nghiêm túc thực hiện việc bảo vệ QTG, bảo hộ SHTT sẽ giúp NSD 
tiếp nhận được tác phẩm đúng chất lượng họ mong muốn, nhận được thông tin chính 
xác về tác giả của tác phẩm mà mình sử dụng, từ đó tránh sự giả mạo hoặc giả danh 
tác phẩm. 
Hiện nay có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc các TV phải tăng cường thực hiện, phổ 
biến cho NSD những vấn đề liên quan đến QTG khi sử dụng các sản phẩm và dịch vụ 
của mình. Có thể kể ra một số nguyên nhân sau: 
1. Xu hướng thuê nguồn thông tin điện tử của các nhà cung cấp: để tiết kiệm kinh phí, 
các TV thường thuê nguồn thông tin điện tử của các nhà cung cấp cho NSD của mình 
truy cập chứ không mua quyền sở hữu. Trong hợp đồng ký kết có thỏa thuận về tác 
quyền với những điều khoản quy định đối với việc sử dụng: về số lượng truy cập, số 
lượng kết nối, số lượng NSD đăng nhập; phạm vi, giới hạn NSD trong việc sao chép 
tài liệu, v.v... 
2. Công nghệ hiện đại: công nghệ hiện đại liên tục được cập nhật trợ giúp TV trong 
việc cung cấp những liên kết điện tử tới những nguồn thông tin có sẵn thông qua 
mạng Internet. Ví dụ như cơ sở dữ liệu (CSDL) trực tuyến, những dịch vụ cung cấp tài 
liệu toàn văn và những hình thức truyền thông khác. Những liên kết điện tử này dẫn 
tới việc những công trình có bản quyền dễ dàng bị sao chép, xử lý và phát tán hơn. 
3. Dịch vụ sao chụp tài liệu: trong các dịch vụ của TV, hầu hết NSD đều khai thác, sử 
dụng dịch vụ sao chụp tài liệu. Việc các thư viện được trang bị và nâng cấp những 
thiết bị sao chụp ngày càng tiên tiến để in ấn, sao chụp, nhân bản, quét tài liệu càng 
khiến hành vi sao chép, phát tán những công trình có bản quyền trở nên dễ dàng hơn. 
Sự gia tăng của những phương tiện sao chụp và các hành vi sao chụp tài liệu đòi hỏi 
TV và NSD đều phải nắm được pháp luật về QTG và nâng cao ý thức chấp hành pháp 
luật về QTG. 
4. Số lượng các tài liệu số hóa ngày càng tăng: trong thời đại điện tử số lượng tác 
phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được số hóa ngày càng nhiều. Do dạng tài liệu số 
có thể sao chép một cách đơn giản, nhanh chóng và dễ dàng phát tán qua mạng 
Internet, dễ dàng lưu trữ nên Luật SHTT đã đề cập tới hàng loạt các hành vi xâm 
phạm QTG mới xuất hiện ở Việt Nam nhằm ngăn chặn các hành vi sử dụng các biện 
pháp kỹ thuật, công nghệ để xâm phạm QTG. Khi phạm vi phục vụ thông tin số của 
các TV được mở rộng với cổng thông tin (portal), các website, các TV cần phải làm 
thế nào vừa đảm bảo cho công chúng có thể được hưởng các quyền truy cập giống 
như với thông tin dạng in, vừa đảm bảo tuân thủ vấn đề QTG. 
5. Bảo đảm cân bằng quyền của chủ sở hữu QTG và lợi ích của NSD đối với thông tin 
số: khi TV mua thông tin số để cung cấp bình đẳng cho cộng đồng của mình, TV cần 
giải quyết mâu thuẫn giữa một bên là phải bảo vệ quyền sở hữu thông tin (thường là 
của các nhà xuất bản chứ không phải là tác giả) và bên kia là quyền được truy cập 
thông tin, được cung cấp thông tin miễn phí và không có giới hạn của NSD. 
6. Vấn đề bảo quản tài liệu của thư viện: để bảo quản tài liệu của thư viện, số lượng tài 
liệu được số hóa ngày càng nhiều đặc biệt là tài liệu quý hiếm, tài liệu độc bản, tài liệu 
có giá thành cao, tài liệu có tần số sử dụng cao, tài liệu có nguy cơ bị hư hỏng. 
Trong hoạt động thông tin - thư viện việc thực hiện quyền SHTT và bảo vệ QTG cần 
phải vận dụng phương thức “Sử dụng hợp lý”. Đây là phương thức xuất xứ từ Luật 
Bản quyền Hoa Kỳ. Theo luật này các hành vi được coi là “sử dụng hợp lý” bao 
gồm: “trích dẫn các phần trong một bài luận hoặc bài phân tích nhằm mục đích minh 
họa, hoặc phê bình, trích dẫn các đoạn văn ngắn trong công trình nghiên cứu kỹ thuật 
hoặc khoa học nhằm để minh họa hoặc làm rõ hơn nhận định của tác giả; sử dụng để 
nhại lại một ít nội dung của tác phẩm đó; tóm tắt một bài phát biểu hoặc một bài báo 
với những trích dẫn ngắn gọn trong một bản tin; việc sao chép lại một phần tác phẩm 
của thư viện do một số phần đã bị hư hỏng; giáo viên hoặc học sinh sao chép một 
phần nhỏ của tác phẩm để minh họa cho bài học; sao chép lại tác phẩm trong các vụ 
kiện pháp lý hoặc các biên bản báo cáo; sao chép lại ngẫu nhiên và tình cờ trong một 
cuốn phim thời sự hoặc truyền hình, của một cơ quan có địa điểm tại nơi sự kiện được 
ghi lại”. 
Trong Khoản 2 Điều 9 Công ước Berne cũng cho phép: “Luật pháp quốc gia thành 
viên có quyền cho phép sao in tác phẩm trong một vài trường hợp đặc biệt, miễn là sự 
sao in đó không phương hại đến việc khai thác bình thường tác phẩm hoặc không gây 
thiệt thòi bất chính cho những quyền lợi hợp pháp của tác giả”. Trong Luật bản quyền 
Anh cho phép NSD sao chép tới 10% nhưng không được quá một chương của một 
cuốn sách. 
Như vậy, theo Công ước quốc tế và Luật bản quyền ở một số nước, thư viện có quyền 
sao chụp tác phẩm mà không cần xin phép tác giả, không cần trả thù lao cho tác giả, 
nếu thỏa mãn được 1 trong các điều kiện sau: 
- Sự sao chụp không ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm. 
- Sự sao chụp không làm phương hại đến những quyền lợi hợp pháp của tác giả, chủ 
sở hữu quyền tác giả. 
- Sự sao chụp không nhằm mục đích thương mại, phải nêu rõ nguồn gốc của tác phẩm 
khi sử dụng. 
- Việc trích dẫn trong các sản phẩm và dịch vụ của thư viện phải thông tin rõ ràng về 
tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm. 
Tại Việt Nam, Điều 25 Luật SHTT và Điều 25 Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định 
một trong những trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, 
không phải trả tiền nhuận bút, thù lao là “tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên 
cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân” và “sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện 
với mục đích nghiên cứu”, “Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho 
người khiếm thị”(không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, 
chương trình máy tính). 
Ngoài ra, để không vi phạm quyền SHTT và QTG, các thư viện Việt Nam có thể học 
tập kinh nghiệm của thư viện nước ngoài. Đa số các thư viện nước ngoài đã quan tâm 
thực hiện quyền SHTT, QTG từ lâu và đều có những văn bản hướng dẫn cách thức 
thực hiện cụ thể, tương đối chi tiết. 
Ví dụ: ở Hoa Kỳ “Phạm vi sử dụng hợp lý” được áp dụng đối với các tác phẩm in, âm 
thanh, hình ảnh, video và các tác phẩm đa phương tiện khi tạo ra các bản sao nhằm 
mục đích lưu trữ trong thư viện. Việc áp dụng này giúp các thư viện xác định rõ ai sẽ 
được phép tạo ra bản sao?; Thư viện có thể sao chép bao nhiêu bản sao? (bao gồm cả 
bản in và bản điện tử). Chẳng hạn tiêu chuẩn thực hiện quyền sao chụp tại các thư 
viện ở Hoa Kỳ là: 
- Việc tái bản và cung cấp tại thư viện không nhằm mục đích thương mại trực tiếp hay 
gián tiếp. 
- Bộ sưu tập của thư viện phải công khai đối với công chúng. 
- Thư viện có đính kèm cẩn thận mỗi bản sao được thực hiện 1 lưu ý về bản quyền. 
- Đối với việc sao chụp tài liệu nhằm mục đích lưu trữ trong thư viện: để tạo một bản 
sao của một tác phẩm chưa được xuất bản, mục đích của thư viện phải là bảo quản 
hoặc bảo mật và nó phải có một bản sao của tác phẩm trong bộ sưu tập của mình; Để 
tạo một bản sao của một tác phẩm đã được xuất bản, mục đích của một thư viện chỉ có 
thể là thay thế một bản sao đã từng có trong bộ sưu tập của mình, những bản sao nào 
đã bị hư hại, xấu đi, bị mất hoặc bị đánh cắp hoặc hình dạng đã trở nên lỗi thời. 
Những tác phẩm được xuất bản như vậy phải không còn được in nữa. 
- Đối với việc sao chụp các chương trình tin tức - nghe nhìn: cho phép các thư viện 
làm một số lượng giới hạn các bản sao các chương trình tin tức - nghe nhìn, bao gồm 
các chương trình phát tin tức mạng lưới địa phương, khu vực và quốc gia, những buổi 
phỏng vấn liên quan đến các sự kiện hiện tại và chương trình tin tức trực tiếp (không 
áp dụng cho tin tức trên tạp chí và phim tài liệu). 
- Đối với việc sao chụp các bản sao được in: cho phép các thư viện tạo ra những cuốn 
sách, bản thảo và tạp chí cùng một loại và không còn được in nữa nhưng có sẵn ở các 
thư viện khác. 
- Đối với việc sao chụp các bản thu âm thanh và video: sao chép các bản thu âm để 
cho mượn, giữ lại bản gốc cho những lúc không thể tránh khỏi khi các bản sao cho 
mượn không được trả lại hoặc bị hư hại (áp dụng thay thế một bản sao bị hư hỏng, bị 
xấu đi, bị mất hoặc bị đánh cắp, hoặc khi định dạng của bản thu âm đã trở nên lỗi 
thời). 
- Đối với việc lưu trữ và phục hồi bản điện tử: các thư viện thực hiện tối đa 3 bản sao 
mặc dù một bản sao kỹ thuật số có thể không được làm sẵn ngoài thư viện. Sự hạn chế 
này nhằm mục đích khiến cho các thư viện không thể cho mượn một bản sao kỹ thuật 
số. 
- Thư viện thực hiện dịch vụ sao chụp theo yêu cầu của khách hàng: thư viện có thể 
tạo một bản sao hoặc một bản sao điện tử hoặc gửi một bản sao bằng máy fax cho 
khách hàng. Đối với việc khách hàng yêu cầu sao chụp một bài viết hoặc các phần nhỏ 
của tác phẩm, một phần cuốn sách, hoặc trọn vẹn tác phẩm mà thư viện có trong bộ 
sưu tập của mình, thư viện phải thông báo rằng bản sao sẽ không được sử dụng cho 
mục đích khác ngoài tự học, nghiên cứu, học thuật và kèm theo một ghi chú nhỏ 
“Cảnh báo về Bản quyền”. 
+ Cảnh báo về bản quyền: trách nhiệm của thư viện là cung cấp cho khách hàng thông 
tin cụ thể về các trường hợp nào được sao chụp tác phẩm, theo đó các thư viện có thể 
đáp ứng một cách hợp pháp các yêu cầu sao chụp của khách hàng và trách nhiệm, 
nghĩa vụ pháp lý của khách hàng theo luật định đối với việc yêu cầu, sử dụng các bản 
sao trong những trường hợp thích hợp. Thư viện được phép từ chối yêu cầu mà thư 
viện chắc chắn rằng sẽ vi phạm pháp luật. 
+ Trường hợp khách hàng sao chụp qua máy tính cũng như sao chụp bằng máy 
photocopy của thư viện: hình thức cảnh báo thể hiện trong nội dung chính sách về 
việc sao chụp tài liệu có bản quyền. “Thông báo về bản quyền: Việc sao chụp, thể 
hiện và phân phối các tác phẩm có bản quyền, có thể vi phạm bản quyền của chủ sở 
hữu”; “Bất kỳ việc sử dụng máy tính hoặc thiết bị sao chụp của sinh viên, giảng viên 
hoặc nhân viên thư viện vi phạm quyền sử dụng các tác phẩm có bản quyền sẽ chịu 
những hình thức kỷ luật thích đáng cũng như những biện pháp dân sự và hình phạt 
hình sự theo luật pháp liên bang” . 
Tại New Zealand vấn đề sao chép tác phẩm tại thư viện phải tuân thủ Luật Bản quyền 
1994. Trong luật này giới hạn về QTG với số % tác phẩm hợp lý dành cho mục đích 
học tập, nghiên cứu của các cá nhân; giới hạn việc sao chép của các tổ chức giáo dục 
phi lợi nhuận nhằm mục đích giáo dục và giới hạn số lượng tư liệu sao chép từ những 
tác phẩm có bản quyền tại các thư viện. Để tăng số lượng các tư liệu sao chép, các thư 
viện phải đăng ký với Công ty quản lý bản quyền Copyright Licensing Ltd. (CLL), 
hoặc phải tìm kiếm giấy phép từ những chủ sở hữu QTG. 
Trong ấn bản The Copyright Act 1994: Guidelines for librarians (của Hiệp hội Thông 
tin và Thư viện LIANZA New Zealand 2005) có nêu ra những vấn đề có liên quan đến 
bản quyền trong hoạt động thư viện. Ví dụ: bản quyền của một tác phẩm sẽ hết hạn 
trong 25 - 50 năm; Nhân viên thư viện có thể làm một bản sao của một tác phẩm hoặc 
một bài báo định kỳ cho NSD sử dụng với mức độ sao chép hợp lý; Phần trăm (%) sao 
chép hợp lý được dựa trên sao chép sử dụng cho mục đích nghiên cứu hoặc tự học, 
sao chép sử dụng cho mục đích giáo dục; Sao chép cho mục đích giáo dục có thể được 
thực hiện dựa theo thỏa thuận chuyển nhượng bản quyền với CLL, hoặc phải được sự 
cho phép của chủ sở hữu bản quyền; Sự sao chép CSDL điện tử chỉ có thể được thực 
hiện dưới dạng hợp đồng giữa thư viện với nhà cung cấp CSDL; Muốn sao chép các 
buổi phát thanh, truyền hình và chương trình truyền hình cáp phải có giấy phép bản 
quyền từ Screenrights. 
Do nhu cầu sao chụp tại các trường đại học rất cao nên các thư viện đại học New 
Zealand phải tham gia vào kế hoạch chuyển nhượng quyền lợi sao chụp (reprographic 
rights licensing scheme) với CLL, phải lo về cả hai vấn đề bản quyền và chuyển 
nhượng bản quyền. “Tỷ lệ hợp lý” được phép sao chụp trong các thư viện đại học 
New Zealand có thể tham khảo trong bảng dưới đây: 
Kinh nghiệm của Trung Quốc về vấn đề bản quyền và sách lược bản quyền trong thực 
thi QTG khi thực hiện các dự án thư viện số (The Chinese Pilot Digital Library 
Project, Knowlegde Network - Digital Library System Project, China Academic 
Libraries Information System, China National Digital Library Project cũng là 
những vấn đề các thư viện Việt Nam nên quan tâm học hỏi. Quan điểm của giới thư 
viện học Trung Quốc cho rằng hành vi số hóa tài liệu lưu trữ trong thư viện là hành vi 
phục chế. Theo quan điểm này, khi số hóa tài liệu các thư viện phải dựa trên trạng thái 
bản quyền của tác phẩm và phương thức sử dụng tác phẩm: 
- Đối với tác phẩm có bản quyền đã được đưa vào lĩnh vực công hữu, khi tiến hành số 
hóa thư viện không được xâm phạm đến các quyền nhân thân của tác giả. 
- Đối với tác phẩm không được bảo hộ bản quyền như pháp luật, Pháp quy, Nghị 
quyết, Quyết định, các văn kiện có tính chất lập pháp, hành chính, tư pháp của cơ 
quan nhà nước, tin tức thời sự, lịch, biểu số thông dụng, biểu mẫu thông dụng, công 
thức thư viện có thể tiến hành số hóa và cung cấp dịch vụ truyền bá trên mạng. 
Riêng các tiêu chuẩn kỹ thuật các thư viện muốn tiến hành số hóa phải được Nhà xuất 
bản Tiêu chuẩn Trung Quốc cho phép. 
- Đối với những tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ lưu trữ trong thư viện: các thư 
viện thường dựa vào quy định tại Điều 22 Luật về quyền trước tác của Trung 
Quốc: “Thư viện, nhà lưu trữ, nhà lưu niệm, bảo tàng, cung mỹ thuật, vì nhu cầu trưng 
bày hay bảo tồn nguyên bản, phục chế các tác phẩm mà mình sưu tập được” để tiến 
hành số hóa mà không cần được sự đồng ý của tác giả, nhưng không được cung cấp 
dịch vụ trên mạng. Để giải quyết nhu cầu tin của NSD, các thư viện Trung Quốc sử 
dụng nguyên tắc “sử dụng hợp lý” để cung cấp dịch vụ đọc bản phục chế số hóa trong 
mạng nội bộ của thư viện. 
- Đối với CSDL toàn văn mua từ nhà cung cấp: khi cung cấp dịch vụ sử dụng CSDL 
toàn văn cho NSD, các thư viện Trung Quốc phải tuân thủ hợp đồng đã ký với nhà 
cung cấp, làm tốt công tác bảo hộ bản quyền số. Đồng thời các thư viện cũng yêu cầu 
nhà cung cấp cam kết cho phép thư viện căn cứ theo nguyên tắc “sử dụng hợp lý” tại 
Điều 22 Luật về quyền trước tác 2002 để phục chế ít nhất 1 bản sao nhằm mục đích 
bảo tồn nguyên bản và quy định rõ về phương thức sử dụng, phạm vi truyền bá CSDL 
này. 
Khi triển khai các dịch vụ nghe nhìn, để tránh tranh chấp bản quyền, các thư viện 
Trung Quốc thường sử dụng một trong hai đối sách: một là cho phép NSD mượn đọc 
miễn phí, hai là sau khi trả phí sử dụng bản quyền cho cơ quan quản lý tập thể về bản 
quyền, thư viện sẽ triển khai dịch vụ cho thuê. 
Từ kinh nghiệm của nước ngoài, việc số hoá tài liệu và xây dựng các bộ sưu tập số 
trong các thư viện Việt Nam sẽ không vi phạm QTG trong các trường hợp sau: 
- Số hóa tác phẩm nằm ngoài bản quyền - những tác phẩm đã thuộc về miền công 
cộng (Public domain) thư viện sẽ không phải xin phép tác giả. Tuy nhiên do quyền 
nhân thân (trừ quyền công bố) là quyền tinh thần của tác giả thì không chịu sự hạn chế 
của thời hạn bảo hộ; Quyền đặt tên, quyền sửa chữa và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của 
tác phẩm vẫn được pháp luật về QTG bảo hộ vĩnh viễn. Vì vậy khi số hóa các tác 
phẩm loại này, thư viện không được xâm phạm các quyền nhân thân của tác giả. 
- Được quyền số hóa các tác phẩm không được bảo hộ QTG như tin tức thời sự thuần 
túy đưa tin; Văn bản QPPL, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp 
và bản dịch chính thức của văn bản đó; Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, 
khái niệm, nguyên lý, số liệu. 
- Đối với tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ QTG: chỉ được sao chép tác phẩm để 
lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu, chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc 
ngôn ngữ khác cho người khiếm thị, phục vụ NSD không nhằm mục đích thương mại. 
Tuyệt đối không được cung cấp và phục vụ sản phẩm, dịch vụ số hóa loại tài liệu này 
trên mạng Internet. 
Kinh nghiệm của thư viện nước ngoài cho thấy, khi tiến hành số hóa tài liệu cần xác 
định được rằng thư viện có vi phạm QTG hay không căn cứ vào trạng thái bản quyền 
của tác phẩm và phương thức sử dụng tác phẩm. Đối với tài liệu được tặng cho thư 
viện và người tặng có QTG, thì thư viện có thể tiến hành số hoá, tuy nhiên cần phải 
yêu cầu người tặng cung cấp cho mình quyền được số hoá tài liệu (có thể bằng một 
bản chuyển nhượng có ghi "quyền sử dụng tác phẩm với bất kỳ mục đích chung của 
thư viện, dưới bất kỳ phương tiện nào"). 
Ngoài ra, các thư viện có thể dùng phương thức “sử dụng hợp lý” để cung cấp cho 
NSD dịch vụ đọc bản số hóa trong hệ thống mạng nội bộ. Mặc dù pháp luật về QTG 
của VN chưa trao cho thư viện đặc quyền này, nhưng phương thức sử dụng này sẽ 
không dẫn đến tranh chấp QTG do dịch vụ này chỉ cho phép NSD đọc các tác phẩm 
có bản quyền trên các máy trạm của thư viện, không cho phép tải xuống và in ấn. 
Tóm lại, để sự nghiệp thư viện Việt Nam có thể hội nhập nhanh chóng với sự nghiệp 
thư viện thế giới, việc thực hiện quyền SHTT và QTG trong hoạt động thông tin - thư 
viện là tiêu chí bắt buộc. Các cán bộ quản lý thư viện cần phải nhận thức đúng đắn 
cũng như quan tâm một cách thỏa đáng đến việc thực hiện quyền SHTT và QTG tại 
thư viện của mình. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. An analysis of the methods used by New Zealand University libraries to inform 
their user about copyright and licensing issues/Ninh Thị Kim Thoa.- Victoria 
Universiry of Wellington, 2006. - tr.17-18, 33-34. 
2. Chuyên đề về Quyền sở hữu trí tuệ: Sử dụng hợp lý là gì?. - Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ 
- Văn phòng Chương trình Thông tin Quốc tế, 
2006. 
3. Copyright in the 
Library,  rty/copypol2.htm.. 
4. ền_tác_giả 
5.
March_2009.pdf. 
The Copyright Act 1994: Guidelines for Librarians. LIANZA, 2005. 
6. Intellectual property law/Paul Marett. - London, Sweet & Maxwell, 1996. - xxx, 
249 p. ; 22 cm. 
7. Phân tích vấn đề bản quyền trong việc xây dựng các nguồn thông tin thực của thư 
viện số/Jiang Xiang Dong; Viễn Phố dịch/ Thông tin Khoa học Xã hội. – 2006. - Số 3. 
- tr.44 – 51. 
________________ 
PGS, TSKH Bùi Loan Thùy, ThS. Bùi Thu Hằng 
Trường ĐHKHXH&NV - ĐHQG TP.HCM 
Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam số 1(27) – 2011 (tr.16-23) 

File đính kèm:

  • pdfthuc_hien_quyen_so_huu_tri_tue_va_quyen_tac_gia_trong_hoat_d.pdf