Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin - Chu Văn Cấp

Tóm tắt Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin - Chu Văn Cấp: ...ối với giai cấp công nhân. Câu hỏi ôn tập 1. Trình bày tuần hoàn tư bản và cho biết những điều kiện cần thiết để tuần hoàn tư bản vận động liên tục. 2. Hãy thông qua định nghĩa chu chuyển tư bản để làm rõ sự giống và khác nhau trong nghiên cứu tuần hoàn và chu chuyển tư bản. 3. Thế nào l...g dụng như môtơ, tuabin, đầu máy điêzen, máy giặt, máy hút bụi và một số mặt hàng khác. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến độc quyền đa ngành là: trong điều kiện cạnh tranh gay gắt giữa các độc quyền và sự biến động nhanh chóng của thị trường thì việc kinh doanh chuyên môn hoá hẹp dễ bị phá sản. Hơ...nghệ. Để khoa học và công nghệ trở thành động lực của sự phát triển thì trước hết phải tạo ra động lực cho sự phát triển của chính bản thân khoa học công nghệ. 4. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại Trong xu thế toàn cầu hoá, quan hệ kinh tế đối ngoại càng phát triển rộng rãi và có hiệu quả ...

pdf257 trang | Chia sẻ: havih72 | Ngày: 11/09/2021 | Lượt xem: 17 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin - Chu Văn Cấp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 đồng. Hình thức này không cần thành lập một 
pháp nhân mới. 
- Xí nghiệp liên doanh mà vốn do hai bên cùng góp theo tỷ lệ nhất định để hình 
thành xí nghiệp mới có hội đồng quản trị và ban điều hành chung. 
- Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài. 
- Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT). Hình thức này đòi hỏi cần 
có nguồn vốn của bên ngoài và thường đầu tư cho các công trình kết cấu hạ tầng. 
Thông qua các hình thức trên mà các khu chế xuất, khu công nghiệp mới, khu 
công nghệ cao... được hình thành và phát triển. 
Đầu tư gián tiếp (Lênin gọi là xuất khẩu tư bản cho vay) là loại hình đầu tư mà 
quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là người có vốn không trực tiếp 
tham gia vào việc tổ chức, điều hành dự án mà thu lợi dưới hình thức lợi tức cho vay 
(nếu là vốn cho vay) hoặc lợi tức cổ phần (nếu là vốn cổ phần), hoặc có thể không thu 
lợi trực tiếp (nếu cho vay ưu đãi). Sự khác nhau rõ nhất giữa đầu tư gián tiếp và đầu tư 
trực tiếp là người đầu tư trực tiếp có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư, còn người đầu 
tư gián tiếp không có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư mà chỉ có thể thu lợi tức trái 
phiếu, cổ phiếu và tiền lãi. 
Nguồn vốn đầu tư gián tiếp rất đa dạng về chủ thể và hình thức. Chủ thể đầu tư 
gián tiếp có thể là chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, v.v với các 
hình thức như: viện trợ có hoàn lại (cho vay), viện trợ không hoàn lại, cho vay ưu đãi 
hoặc không ưu đãi; mua cổ phiếu và các chứng khoán theo mức quy định của từng 
nước. So với nguồn vốn đầu tư trực tiếp thì nguồn vốn đầu tư gián tiếp không lớn. 
Trong các nguồn vốn đầu tư gián tiếp, một bộ phận quan trọng là viện trợ phát triển 
chính thức (ODA) của chính phủ một số nước có nền kinh tế phát triển. Bộ phận này có 
tỷ trọng lớn và thường đi kèm với điều kiện ưu đãi. ODA bao gồm các khoản hỗ trợ 
không hoàn lại, các khoản tín dụng ưu đãi khác do các tổ chức trong hệ thống Liên hợp 
quốc, các chính phủ, các tổ chức kinh tế quốc dân dành cho các nước chậm phát triển. 
5. Các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ, du lịch quốc tế 
Các dịch vụ thu ngoại tệ là một bộ phận quan trọng của kinh tế đối ngoại. Xu thế 
hiện nay là tỷ trọng các hoạt động dịch vụ tăng lên so với hàng hoá khác trên thị trường 
thế giới. 
Với Việt Nam, việc đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ là giải pháp cần 
thiết, thiết thực để phát huy lợi thế của đất nước. 
Sau đây là các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ chủ yếu: 
a) Du lịch quốc tế 
Du lịch là nhu cầu khách quan, vốn có của con người. Kinh tế càng phát triển, 
năng suất lao động càng cao thì nhu cầu du lịch - nhất là du lịch quốc tế càng tăng vì thu 
nhập của con người tăng lên, thời gian nhàn rỗi, nghỉ ngơi cũng nhiều hơn. 
Phát triển ngành du lịch quốc tế sẽ phát huy lợi thế của Việt Nam về cảnh quan 
thiên nhiên, về nhiều loại lao động đặc thù mang tính dân tộc, truyền thống của Việt Nam. 
Tuy nhiên, muốn thu hút khách du lịch cần chú ý những điểm sau đây: 
- Phải tiếp tục nâng cấp các khách sạn hiện có để bảo đảm phục vụ du khách tốt 
hơn. 
- Phải mở thêm các tours du lịch hấp dẫn. 
- Phải có chính sách cho đầu tư du lịch mang tính tổng thể với trách nhiệm không 
chỉ của ngành du lịch. 
- Phải cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi và sự hứng khởi cho khách du 
lịch. 
b) Vận tải quốc tế 
Vận tải quốc tế là hình thức chuyên chở hàng hoá và hành khách giữa hai nước 
hoặc nhiều nước. 
Vận tải quốc tế sử dụng các phương thức như: đường biển, đường sắt, đường bộ 
(ôtô), đường hàng không... trong các phương thức đó, vận tải đường biển có vai trò 
quan trọng nhất. 
Việt Nam có vị trí địa lý quan trọng, lại có nhiều hải cảng thuận tiện cho vận tải 
đường biển nên có thể phát huy thế mạnh của mình thông qua việc đẩy mạnh vận tải 
quốc tế. 
c) Xuất khẩu lao động ra nước ngoài và tại chỗ 
Việt Nam với dân số gần 80 triệu người, kinh tế chưa phát triển, là một nước có 
thương mại lao động lớn. Việc xuất khẩu lao động mang lại nhiều lợi ích trước mắt và 
lâu dài. 
- Thu được lượng ngoại tệ đáng kể cho người trực tiếp lao động và cho ngân sách 
nhà nước. 
- Người lao động được rèn luyện tay nghề và thói quen hoạt động công nghiệp ở 
các nước có nền kinh tế phát triển. Khi hết hạn hợp đồng về nước, sẽ trở thành lực 
lượng lao động có chất lượng. 
- Giải quyết việc làm, giảm được tỷ lệ thất nghiệp. 
Vì vậy việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động thu ngoại tệ là một nhiệm vụ quan trọng 
của kinh tế đối ngoại. 
d) Các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ khác 
Ngoài những hoạt động nêu trên, lĩnh vực kinh tế đối ngoại còn có nhiều hoạt 
động dịch vụ thu ngoại tệ khác như dịch vụ thu bảo hiểm, dịch vụ thông tin bưu điện, 
dịch vụ kiều hối, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tư vấn... 
Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là hoạt động hết sức cần thiết nhưng cũng hết 
sức mới mẻ và khó khăn đối với nước ta. Do đó, để mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh 
tế đối ngoại, cần thiết phải thực hiện tốt một số loại giải pháp dưới đây: 
Thứ nhất, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị vững 
mạnh, củng cố an ninh quốc phòng và đấu tranh có hiệu quả chống âm mưu phá hoại 
của các thế lực thù địch. 
Thứ hai, tăng cường việc quản lý thống nhất của Nhà nước về kinh tế đối ngoại. 
Cần khẳng định rằng, việc chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu sang cơ chế thị 
trường có điều tiết vĩ mô không có nghĩa là từ bỏ sự quản lý thống nhất của Nhà nước 
mà phải thực hiện sự quản lý đó một cách mềm dẻo và linh hoạt, có hiệu quả cao hơn. 
- Nhà nước thống nhất quản lý trên tầm vĩ mô mọi hoạt động kinh tế đối ngoại 
bằng những biện pháp kinh tế và hành chính trên cơ sở bảo đảm tính tự chủ của các tổ 
chức kinh doanh đối ngoại. Trong trường hợp có nhiều cơ quan nhà nước thực hiện việc 
quản lý nói trên thì phải xác định rõ chức năng, quyền hạn của từng cơ quan để vừa 
tránh chồng chéo, vừa tránh sơ hở, buông lỏng quản lý. 
Để thực hiện sự quản lý thống nhất của Nhà nước, cần phải: 
- Xây dựng một số Tổng công ty hoặc tập đoàn lớn, có uy tín và khả năng cạnh 
tranh trong quan hệ kinh tế với nước ngoài. 
- Nhà nước ban hành những định chế thích hợp để bảo đảm thống nhất đầu mối, 
khắc phục tình trạng tranh mua, tranh bán giữa các tổ chức được quyền kinh doanh đối 
ngoại của ta trên thị trường trong và ngoài nước. 
Để thống nhất chỉ đạo quá trình Việt Nam gia nhập và hoạt động trong các tổ chức 
kinh tế - thương mại quốc tế và khu vực, hội nhập với thế giới, năm 1998 Chính phủ đã 
thành lập Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế. 
III- Mục tiêu, phương hướng, nguyên tắc cơ bản nhằm mở rộng và 
nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại 
1. Về mục tiêu 
Đối với nước ta, việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại phải nhằm từng bước 
thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định 
hướng xã hội chủ nghĩa. Trong thời gian trước mắt, việc mở rộng quan hệ kinh tế đối 
ngoại nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước - 
nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ. Mục tiêu đó phải được quán triệt đối với mọi 
ngành, mọi cấp trong hoạt động kinh tế đối ngoại cũng như phải được quán triệt trong 
mọi lĩnh vực của kinh tế đối ngoại. 
2. Phương hướng cơ bản nhằm mở rộng, phát triển và nâng cao hiệu quả 
kinh tế đối ngoại 
Xuất phát từ quan điểm: "Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong 
cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực", Đảng ta 
phương hướng cơ bản nhằm phát triển kinh tế đối ngoại trong thời kỳ quá độ là: "Thực 
hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, chủ động, tích cực hội nhập 
kinh tế sâu hơn, đầy đủ hơn với khu vực và thế giới"1. 
- Đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức kinh 
tế không phân biệt chế độ chính trị trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình 
đẳng và cùng có lợi. Củng cố và tăng cường vị trí của Việt Nam ở các thị trường quen 
thuộc và với bạn hàng truyền thống; tích cực thâm nhập, tạo chỗ đứng ở các thị trường 
mới, phát triển các quan hệ mới dưới mọi hình thức. 
- Kinh tế đối ngoại là một trong các công cụ kinh tế bảo đảm cho việc thực hiện 
mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra cho từng giai đoạn lịch sử cụ thể và phục vụ đắc lực mục 
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo 
định hướng xã hội chủ nghĩa. 
- Chủ động tạo những điều kiện để hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới; 
phát huy ý chí tự lực, tự cường; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, dựa 
vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. 
Theo những định hướng trên, những năm qua, hoạt động kinh tế đối ngoại ở nước 
ta đã từng bước mở rộng thị trường, đã lập lại quan hệ bình thường với các tổ chức tài 
1. Sđd, tr. 204. 
chính, tiền tệ quốc tế, bước đầu đã thu được những thành tựu quan trọng. Bên cạnh 
những thành tựu to lớn đó, hoạt động kinh tế đối ngoại vẫn còn những bất cập đã và 
đang là những thách thức đối với nước ta, đòi hỏi chính sách kinh tế đối ngoại phải tiếp 
tục đổi mới và hoàn thiện. 
3. Nguyên tắc cơ bản cần quán triệt trong việc mở rộng và nâng cao 
hiệu quả kinh tế đối ngoại 
a) Bình đẳng 
Đây là nguyên tắc có ý nghĩa rất quan trọng làm nền tảng cho việc thiết lập và lựa 
chọn đối tác trong quan hệ kinh tế quốc tế giữa các nước. 
Nguyên tắc bình đẳng này xuất phát từ yêu cầu phải coi mỗi quốc gia trong cộng 
đồng quốc tế là một quốc gia độc lập có chủ quyền. Nó cũng bắt nguồn từ yêu cầu của 
sự hình thành và phát triển của thị trường quốc tế mà mỗi quốc gia là thành viên. Với tư 
cách là thành viên, mỗi quốc gia phải được bảo đảm có quyền tự do kinh doanh, quyền 
tự chủ như mọi quốc gia khác. Nói cách khác, bảo đảm tư cách pháp nhân của mỗi quốc 
gia trước luật pháp quốc tế và cộng đồng quốc tế. 
b) Cùng có lợi 
Nếu nguyên tắc thứ nhất giữ vai trò chung cho việc hình thành và phát triển quan 
hệ đối ngoại, thì nguyên tắc này lại giữ vai trò là nền tảng kinh tế để thiết lập và mở 
rộng quan hệ kinh tế giữa các nước với nhau. 
Cơ sở khách quan của nguyên tắc cùng có lợi bắt nguồn từ yêu cầu phải thực hiện 
đúng các quy luật kinh tế của thị trường diễn ra trên phạm vi quốc tế mà mỗi nước có 
lợi ích kinh tế dân tộc khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường thế giới, nguyên tắc bình 
đẳng giữa các quốc gia sẽ là hình thức, nếu các quốc gia có tham dự không cùng có lợi 
ích kinh tế. Vì trong trường hợp đó, quan hệ kinh tế giữa các nước sẽ đi ra ngoài yêu 
cầu của quy luật giá trị - quy luật dựa trên nguyên tắc ngang giá của kinh tế thị trường 
trong cộng đồng quốc tế. 
Nguyên tắc cùng có lợi còn là động lực kinh tế để thiết lập và duy trì lâu dài mối 
quan hệ kinh tế giữa các quốc gia với nhau. 
c) Tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi 
quốc gia 
Trong quan hệ quốc tế, mỗi quốc gia với tư cách là quốc gia độc lập có chủ quyền 
về mặt chính trị, kinh tế, xã hội và địa lý. 
Cơ sở khách quan của nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc bình đẳng, trong 
quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia với nhau. Nó cũng bắt nguồn từ nguyên tắc cùng có 
lợi, mà xét cho đến cùng chỉ khi cùng có lợi về mặt kinh tế, mới tạo cơ sở để cùng có 
các lợi ích khác nhau về chính trị, quân sự và xã hội. 
Nguyên tắc này đòi hỏi mỗi bên trong hai bên hoặc nhiều bên phải thực hiện đúng 
các yêu cầu: 
- Tôn trọng các điều khoản đã được ký kết trong các nghị định giữa các chính phủ 
và trong các hợp đồng kinh tế giữa các chủ thể kinh tế với nhau. 
- Không được đưa ra những điều kiện làm tổn hại đến lợi ích của nhau. 
- Không được dùng các thủ đoạn có tính chất can thiệp vào công việc nội bộ của 
quốc gia có quan hệ, nhất là dùng thủ đoạn kinh tế, kỹ thuật và kích động để can thiệp 
vào đường lối, thể chế chính trị của các quốc gia đó. 
d) Giữ vững độc lập, chủ quyền dân tộc và củng cố định hướng xã hội chủ nghĩa 
đã chọn 
Đây là nguyên tắc vừa mang tính chất chung cho tất cả các nước khi thiết lập và 
thực hiện quan hệ đối ngoại, vừa là nguyên tắc có tính đặc thù đối với các nước xã hội 
chủ nghĩa, trong đó có nước ta. Trong quan hệ kinh tế quốc tế giữa các nước với nhau 
không đơn thuần phải xử lý tốt mối quan hệ về lợi ích kinh tế, mà còn phải xử lý tốt mối 
quan hệ giữa lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là để 
tạo ra sự tăng trưởng kinh tế cao và bền vững. Nhưng tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với 
việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện từng bước những đặc trưng của 
chủ nghĩa xã hội. 
IV- Các giải pháp chủ yếu nhằm mở rộng, nâng cao hiệu quả kinh tế 
đối ngoại 
Để thực hiện mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại, cần thực hiện 
đồng bộ hàng loạt các giải pháp trong đó có các giải pháp chủ yếu sau đây: 
1. Bảo đảm sự ổn định về môi trường chính trị, kinh tế xã hội 
Môi trường chính trị, kinh tế - xã hội là nhân tố cơ bản, có tính quyết định đối với 
hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt là đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài - hình 
thức chủ yếu, quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại. Kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ 
ra rằng, nếu sự ổn định chính trị không được bảo đảm, môi trường kinh tế không thuận 
lợi, thiếu các chính sách khuyến khích, môi trường xã hội thiếu tính an toàn... sẽ tác 
động xấu tới quan hệ hợp tác kinh tế, trên hết là đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài 
và khách du lịch. 
2. Có chính sách thích hợp đối với từng hình thức kinh tế đối ngoại 
Đây là giải pháp quan trọng nhằm phát triển đa dạng, có hiệu quả kinh tế đối 
ngoại. Việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại đòi hỏi: 
Một mặt, phải mở rộng các hình thức kinh tế đối ngoại, mặt khác, phải sử dụng 
linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể. Đặc biệt là phải sử dụng chính sách thích hợp 
đối với mỗi hình thức kinh tế đối ngoại. Chẳng hạn đối với hình thức ngoại thương cần 
phải có chính sách khuyến khích mạnh mẽ sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu, tăng 
nhanh tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, phát triển mạnh mẽ những sản 
phẩm hàng hoá dịch vụ có khả năng cạnh tranh, có cơ chế bảo hiểm hàng xuất khẩu, đặc 
biệt là nông sản, đầu tư cho hoạt động hỗ trợ xuất khẩu. Tiếp tục cải thiện môi trường 
đầu tư, tăng sức hấp dẫn nhất là đối với các công ty xuyên quốc gia. Khuyến khích các 
doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài và các chính sách hỗ trợ công dân Việt 
Nam kinh doanh ở nước ngoài. Có chính sách thích hợp tranh thủ nguồn vốn ODA... 
Tăng cường mở rộng và có biện pháp hữu hiệu đối với các hình thức kinh tế đối 
ngoại khác như gia công, hợp tác khoa học - công nghệ và các dịch vụ thu ngoại tệ, có 
chính sách tỷ giá thích hợp... 
3. Xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật 
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nói 
chung, kinh tế đối ngoại nói riêng. Trong điều kiện nền kinh tế tri thức đang hình thành 
và từng bước phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội càng đóng vai trò quan trọng và 
yêu cầu chất lượng ngày càng cao. Trong đó đặc biệt là kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ 
thuật mà trước hết là hệ thống thông tin liên lạc, giao thông vận tải. 
Đối với nước ta, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực bưu chính 
viễn thông thì trong lĩnh vực giao thông vận tải, mặc dù đang có nhiều cố gắng, song 
vẫn còn quá lạc hậu so với các nước trong khu vực, trong khi vốn đầu tư còn nhiều hạn 
chế. Do vậy, phải có chiến lược đầu tư đúng nhất là đầu tư tập trung có trọng điểm, dứt 
điểm và có hiệu quả cao, đặc biệt phải kiên quyết chống các hiện tượng tiêu cực gây 
thất thoát vốn đầu tư. 
4. Tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với kinh tế đối ngoại 
Vai trò quan trọng về quản lý kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường 
đã được khẳng định. Đối với lĩnh vực kinh tế đối ngoại do tính chất đặc biệt của nó vai 
trò đó lại càng quan trọng hơn bao giờ hết. Chỉ có tăng cường vai trò quản lý của Nhà 
nước mới có thể bảo đảm mục tiêu, phương hướng và giữ vững được những nguyên tắc 
cơ bản trong kinh tế đối ngoại và có như vậy hoạt động kinh tế đối ngoại mới mang lại 
hiệu quả. Cũng chỉ có tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước mới có thể hạn chế 
được những rủi ro, nắm bắt được những cơ hội nhờ đó mang lại lợi ích cho các đơn vị 
hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng và quốc gia nói chung. Thông qua sự tăng cường 
vai trò quản lý nhà nước sẽ khắc phục được tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh, phát huy 
hiệu quả của sự hợp tác trong nước để có sức mạnh cạnh tranh quốc tế, tránh được sự thua 
thiệt về lợi ích... 
Để tăng cường vai trò quản lý kinh tế đối ngoại của Nhà nước cần thiết phải đổi mới 
tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý để vừa đảm bảo sự thống nhất quản lý của nhà nước về kinh 
tế đối ngoại, song vẫn phát huy được tính chủ động, sáng tạo của các đơn vị, đưa lại hiệu 
quả kinh tế - xã hội ngày càng lớn. 
5. Xây dựng đối tác và tìm kiếm đối tác trong quan hệ kinh tế đối ngoại 
Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, đối tác trở thành vấn đề rất cơ bản, có tính 
quyết định đối với hiệu quả kinh tế đối ngoại. 
Do hình thức kinh tế đối ngoại rất đa dạng nên đối tác cũng hết sức đa dạng. Cũng 
vì thế vừa xây dựng đối tác và tìm kiếm đối tác quan hệ trở thành vấn đề phức tạp cần 
được xử lý linh hoạt. 
Đối với việc xây dựng đối tác trong nước, điều quan trọng là phải từng bước xây 
dựng các đối tác mạnh (về vốn, công nghệ, năng lực quản lý, phong cách giao tiếp quốc 
tế...) có tầm cỡ quốc tế đóng vai trò đầu tàu trong quan hệ. 
Đối với đối tác nước ngoài: việc lựa chọn đối tác thích hợp luôn là vấn đề quan 
trọng đối với bên Việt Nam. Song trong tương lai và về lâu dài cần quan tâm hơn đối 
với các công ty xuyên quốc gia vì đó là nguồn quốc tế lớn về vốn, công nghệ, kinh 
nghiệm quản lý mà chúng ta rất cần khai thác. 
Trên đây là 5 giải pháp chủ yếu trong hệ thống các giải pháp. Mỗi giải pháp có vị 
trí khác nhau và sự phân định cũng chỉ có ý nghĩa tương đối. Để mở rộng và nâng cao 
hiệu quả kinh tế đối ngoại cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp trên. 
Câu hỏi ôn tập 
1. Kinh tế đối ngoại? Vai trò của nó? Phân tích cơ sở khách quan của việc hình 
thành và phát triển kinh tế đối ngoại. 
2. Phân tích các hình thức kinh tế đối ngoại chủ yếu ở nước ta hiện nay. 
3. Phân tích mục tiêu, phương hướng và nguyên tắc mở rộng quan hệ kinh tế đối 
ngoại. 
4. Trình bày các giải pháp chủ yếu để mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối 
ngoại ở nước ta hiện nay. 
Mục lục 
Phần mở đầu 
Chương I: Đối tượng, phương pháp và chức năng của kinh tế chính trị Mác-
Lênin 
Chương II: Tái sản xuất xã hội và tăng trưởng kinh tế 
Chương III: Hàng hoá và tiền tệ 
Phần thứ nhất 
Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa 
Chương IV: Sản xuất giá trị thặng dư - quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư 
bản 
Chương V: Tuần hoàn và chu chuyển tư bản 
Chương VI: Tái sản xuất tư bản xã hội 
Chương VII: Các hình thái tư bản và các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư 
Chương VIII: Chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà 
nước 
Phần thứ hai 
Những vấn đề kinh tế chính trị của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 
Chương IX: Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 
Chương X: Sở hữu tư liệu sản xuất và nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ 
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 
Chương XI: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ 
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 
Chương XII: Kinh tế nông thôn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt 
Nam 
Chương XIII: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 
Chương XIV: Tài chính, tín dụng, ngân hàng và lưu thông tiền tệ trong thời kỳ quá 
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 
Chương XV: Lợi ích kinh tế và phân phối thu nhập trong thời kỳ quá độ lên chủ 
nghĩa xã hội ở Việt Nam 
Chương XVI: Kinh tế đối ngoại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt 
Nam 

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_kinh_te_chinh_tri_mac_lenin_chu_van_cap.pdf