Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam - Diệp Thành Nguyên
Tóm tắt Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam - Diệp Thành Nguyên: ...h chính Tòa án nhân dân tối cao gồm ba Thẩm phán. - Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Uỷ ban Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh khi xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm phải có ít nhất 2/3 (hai phần ba) tổng số thành viên tham gia. Hội đồng xét xử quyết định theo đa số, riêng q...n dân của cơ quan lập danh sách cử tri trên cùng lãnh thổ với Toà án. 2. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Toà án cấp tỉnh) giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây: a) Khiếu kiện quyết định h...h của Luật khiếu nại, tố cáo, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại và cũng không tiếp tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo. b) Cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chứ...
ố tụng hành chính quy định giai đoạn xét xử phúc thẩm nhằm: - Ðảm bảo cho việc giải quyết vụ án hành chính đúng pháp luật, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân; - Sửa chữa những sai lầm, thiếu sót, khuyết điểm mà Tòa án cấp sơ thẩm đã vướng phải trong quá trình xét xử; - Tạo điều kiện cho Tòa án cấp trên kiểm tra chất lượng xét xử của Tòa án cấp dưới, thông qua đó hướng dẫn hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới cho phù hợp với pháp luật và thực tế khách quan. II-KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM 1. Chủ thể kháng cáo, kháng nghị Theo quy định tại Ðiều 55 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, thì chủ thể của quyền kháng cáo, kháng nghị gồm: - Chủ thể có quyền kháng cáo là: đương sự hoặc người đại diện của đương sự. - Chủ thể có quyền kháng nghị là: Viện kiểm sát cùng cấp hoặc trên một cấp của cấp Tòa án đang xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Chủ thể kháng cáo, kháng nghị có quyền kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án trên một cấp xét xử phúc thẩm, trừ trường hợp người khởi kiện 74 rút đơn kiện; Viện kiểm sát rút quyết định khởi tố trong trường hợp không có người khởi kiện. 2. Khách thể của quyền kháng cáo, kháng nghị Khách thể của quyền kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm gồm: - Các bản án hành chính sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật; - Các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật; Người kháng cáo phải làm đơn kháng cáo; Viện kiểm sát kháng nghị bằng văn bản. Trong đơn kháng cáo, kháng nghị phải nêu rõ: - Nội dung phần quyết định của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị; - Lý do kháng cáo, kháng nghị; - Yêu cầu của người kháng cáo, kháng nghị. 3. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị Thời hạn kháng cáo là mười ngày, kể từ ngày Tòa án tuyên án hoặc ra quyết định; nếu đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thì thời hạn này tính từ ngày bản sao bản án, quyết định được giao cho họ, thân nhân của họ hoặc được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, trị trấn nơi họ cư trú hoặc nơi có trụ sở, nếu đương sự là cơ quan, tổ chức. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là mười ngày, của Viện kiểm sát là cấp trên là hai mươi ngày, kể từ ngày Tòa án tuyên án hoặc ra quyết định. Nếu Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa, thì thời hạn kháng nghị được tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản sao bản án, quyết định của Tòa án. Pháp luật tố tụng hành chính nước ta cũng quy định trong trường hợp do trở ngại khách quan, mà không thể kháng cáo, kháng nghị được trong thời hạn quy định như trình bày ở trên, thì thời gian bị trở ngại khách quan không tính vào thời hạn kháng cáo, kháng nghị. 4. Hậu quả pháp lý của kháng cáo, kháng nghị Trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Quá thời hạn pháp luật quy định mà không có kháng cáo, kháng nghị thì mặc nhiên bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. 75 Kháng cáo, kháng nghị hợp lệ có hậu quả làm cho bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị chưa được đưa ra thi hành. Nếu kháng cáo, kháng nghị toàn bộ bản án, quyết định thì toàn bộ bản án, quyết định chưa được đưa ra thi hành; nếu chỉ kháng cáo, kháng nghị một phần bản án, quyết định thì chỉ phần bị kháng cáo, kháng nghị chưa được đưa ra thi hành. 5. Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị Trước khi bắt đầu phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng không được vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết. Trước khi bắt đầu phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo có quyền rút kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị. Toà án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những phần của vụ án mà người kháng cáo đã rút kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã rút kháng nghị. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên toà phải được làm thành văn bản và gửi cho Toà án cấp phúc thẩm. Toà án cấp phúc thẩm phải thông báo cho Viện kiểm sát và các đương sự biết về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên toà phải được ghi vào biên bản phiên toà. III- PHIÊN TÒA PHÚC THẨM HÀNH CHÍNH 1. Hội đồng xét xử phúc thẩm Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán. Pháp luật quy định thành phần Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm như vậy xuất phát từ yêu cầu: mục đích của tòa án cấp phúc thẩm là xem xét tòa án cấp sơ thẩm có áp dụng đúng pháp luật trong quá trình xét xử hay không; mặc khác bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi ban hành. Vì vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm phải gồm toàn bộ là những thẩm phán (không có Hội thẩm nhân dân), vì thẩm phán là người được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, có kinh nghiệm xét xử, như thế mới đảm bảo được tính đúng đắn và chính xác toàn diện của bản án, quyết định phúc thẩm nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. 76 2. Thời hạn xét xử phúc thẩm Kháng cáo, kháng nghị được gởi đến Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án. Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị hoặc kể từ ngày người kháng cáo xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm (nếu người kháng cáo phải nộp tiền này), Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi kháng cáo, kháng nghị kèm theo toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải ra quyết định giải quyết việc kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ do Tòa án cấp sơ thẩm gởi đến, Tòa án cấp phúc thẩm phải mở phiên tòa phúc thẩm (trừ các trường hợp Hội đông xử không phải mở phiên tòa, nhưng phải đảm bảo đúng thời hạn này); trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn này cũng không được quá 90 ngày. 3. Các trường hợp Hội đồng xét xử không phải mở phiên tòa Hội đồng xét xử phúc thẩm không phải mở phiên tòa, không phải triệu tập các đương sự trong các trường hợp sau đây: - Xét kháng cáo, kháng nghị quá hạn; - Xét kháng cáo, kháng nghị về phần án phí; - Xét kháng cáo, kháng nghị những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. 4. Những người tham dự phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà phúc thẩm; nếu vắng mặt thì phải hoãn phiên toà. Toà án phải gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ vụ án cho Toà án. Đương sự kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị được triệu tập tham gia phiên toà; nếu có người vắng mặt thì Toà án vẫn có thể tiến hành xét xử. Toà án chỉ triệu tập người giám định, người phiên dịch, người làm chứng khi có yêu cầu của đương sự và khi xét thấy cần thiết cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị; nếu có người vắng mặt thì tuỳ từng trường hợp mà Toà án quyết định tiến hành xét xử hoặc hoãn phiên toà. Đối với các vụ án khi xét xử sơ thẩm không cần sự có mặt của người tham gia tố tụng hoặc người tham gia tố tụng không có yêu cầu tham gia phiên toà phúc thẩm thì Toà án tiến hành phiên toà phúc thẩm không cần sự có mặt của họ. 77 5. Thủ tục phiên tòa phúc thẩm Phiên tòa phúc thẩm được tiến hành theo các thủ tục như phiên tòa sơ thẩm. Trước khi xem xét kháng cáo, kháng nghị, một thành viên Hội đồng xét xử trình bày nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo, kháng nghị. 6. Quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm có quyền: 1. Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên các quyết định của bản án, quyết định sơ thẩm; 2. Sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của bản án, quyết định sơ thẩm; Bản án, quyết định sơ thẩm bị sửa đổi một phần hoặc toàn bộ khi: - Nội dung trái pháp luật, không phù hợp với hồ sơ vụ án; - Có chứng cứ mới cho thấy bản án, quyết định sơ thẩm trái pháp luật, không đúng với sự thật khách quan của vụ án. 3. Hủy bản án, quyết định sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hoặc việc xác minh, thu nhập chứng cứ không đầy đủ mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được; 4. Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có một trong các trường hợp quy định tại Ðiều 40 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính; 5. Hủy bản án, quyết định sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có một trong các trường hợp quy định tại Ðiều 41 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính; 6. Ðình chỉ việc giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm, nếu việc xét xử phúc thẩm vụ án cần phải có mặt người kháng cáo và họ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Trong trường hợp này, bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, đối với trường hợp có nhiều người kháng cáo, thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm, nhưng không xem xét nội dung kháng cáo của người kháng cáo vắng mặt nói trên./. Câu hỏi 1) Khái niệm và mục đích phúc thẩm vụ án hành chính? 2) Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm? 3) Quyền hạn của tòa án cấp phúc thẩm? 78 Tài liệu tham khảo 1) Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006; 2) Nghị quyết số 04/2006/NQ-HÐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi bổ sung năm 1998 và 2006. 79 Chương 10: THỦ TỤC XÉT LẠI CÁC BẢN ÁN VÀ QUYẾT ÐỊNH ÐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, có những sai lầm, thiếu sót có thể phát hiện ngay khi bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, cũng có những sai lầm, thiếu sót chỉ phát hiện khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, đối với những bản án, quyết định này cần được khắc phục bằng thủ tục nhất định, đó là thủ tục: giám đốc thẩm và tái thẩm. Việc quy định thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm vụ án hành chính nhằm các mục đích sau: - Nhằm đảm bảo cho bản án hoặc quyết định của Tòa hành chính đã tuyên luôn đúng, có căn cứ và hợp pháp, phù hợp với thực tế của vụ án hành chính; - Việc xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm giúp cho Tòa án cấp trên thấy được những thiếu sót, sai lầm của Tòa án cấp dưới trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, để từ đó có hướng dẫn phù hợp giúp Tòa án cấp dưới áp dụng pháp luật thống nhất trong toàn quốc. I- THỦ TỤC GIÁM ÐỐC THẨM 1. Khái niệm giám đốc thẩm Giám đốc thẩm là việc Tòa án cấp trên có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật khi có kháng nghị của những người có quyền kháng nghị khi phát hiện có sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án. 2. Chủ thể kháng nghị Chủ thể của quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm gồm: 1. Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. 2. Chánh án Toà án cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện. 80 3. Căn cứ để kháng nghị, thời hạn kháng nghị Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ sau đây: 1. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; 2. Phần quyết định trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; 3. Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. II- THỦ TỤC TÁI THẨM 1. Khái niệm tái thẩm Tái thẩm là việc Tòa án cấp trên có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật khi có kháng nghị của những người có quyền kháng nghị khi mới phát hiện tình tiết quan trọng ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án. 2. Chủ thể kháng nghị 1. Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. 2. Chánh án Toà án cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện. Như vậy, theo quy định mới hiện nay thì so với kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, phạm vi chủ thể của quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là giống nhau. 3. Căn cứ để kháng nghị, thời hạn kháng nghị: Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong các căn cứ sau đây: 1. Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được khi giải quyết vụ án; 81 2. Ðã xác minh được lời khai của người làm chứng, kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch rõ ràng không đúng sự thật hoặc có giả mạo bằng chứng; 3. Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án; 4. Bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước mà Tòa án dựa vào để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là một năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. • Lưu ý: - Kháng nghị phải được gửi cho Toà án đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị, Toà án sẽ xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị. Trong trường hợp Chánh án Toà án nhân dân tối cao hoặc Chánh án Toà án cấp tỉnh kháng nghị thì Toà án sẽ xét xử giám đốc thẩm phải gửi kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp để nghiên cứu trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị và hồ sơ vụ án. - Người đã kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm có quyền thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị, nếu chưa hết thời hạn kháng nghị. - Trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà, người kháng nghị có quyền rút kháng nghị. Việc rút kháng nghị trước khi mở phiên toà phải được làm thành văn bản. - Việc rút kháng nghị tại phiên toà phải được ghi vào biên bản phiên toà. - Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm trong trường hợp người kháng nghị rút toàn bộ kháng nghị. - Người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án có quyền hoãn, tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định không quá hai tháng để xem xét, quyết định việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. - Người kháng nghị có quyền hoãn hoặc tạm đình chỉ việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. 82 III- PHIÊN TÒA GIÁM ÐỐC THẨM, TÁI THẨM 1. Thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ có quyền xem xét phần nội dung của vụ án liên quan đến quyết định bị kháng nghị. 2. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh giám đốc thẩm hoặc tái thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện bị kháng nghị. Toà hành chính Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩm hoặc tái thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp tỉnh bị kháng nghị. Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩm hoặc tái thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà phúc thẩm, Toà hành chính Toà án nhân dân tối cao bị kháng nghị. Những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án hành chính thuộc thẩm quyền của các cấp Toà án khác nhau nêu trên thì Toà án có thẩm quyền cấp trên giám đốc thẩm hoặc tái thẩm toàn bộ vụ án. 3. Phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm Trong thời hạn một tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, Toà án phải mở phiên toà giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Phiên toà giám đốc thẩm hoặc tái thẩm không phải triệu tập đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị, trừ trường hợp Toà án thấy cần phải nghe ý kiến của họ trước khi quyết định. Đại diện Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Tại phiên toà, một thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm trình bày nội dung vụ án, nội dung kháng nghị. Trong trường hợp Toà án có triệu tập những người tham gia tố tụng thì người được triệu tập trình bày ý kiến của mình về quyết định kháng nghị. Đại diện Viện kiểm sát trình bày ý kiến của Viện kiểm sát về quyết định kháng nghị. Các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thảo luận và phát biểu ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm biểu quyết về việc giải quyết vụ án. Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh, của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban Thẩm phán, của Hội đồng Thẩm phán biểu quyết tán thành. 83 Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh hoặc Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao biểu quyết theo trình tự tán thành, không tán thành với kháng nghị và ý kiến khác; nếu không có trường hợp nào được quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh, của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành thì phải hoãn phiên toà. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà, Uỷ ban Thẩm phán, Hội đồng Thẩm phán phải tiến hành xét xử lại với sự tham gia của toàn thể các thành viên. 4. Quyền hạn của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền: 1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; 2. Giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dưới đã bị huỷ hoặc bị sửa; 3. Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại; 4. Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có một trong các trường hợp quy định tại Điều 41 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính./. Câu hỏi 1) So sánh giữa hai thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm? 2) Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm? 3) Quyền hạn của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm? Tài liệu tham khảo 1) Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006; 2) Nghị quyết số 04/2006/NQ-HÐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi bổ sung năm 1998 và 2006; 3) Tạp chí Dân chủ và pháp luật (của Bộ Tư pháp) tháng 12/2001 - Số chuyên đề: Toà hành chính và việc giải quyết khiếu kiện của tổ chức, công dân. 84
File đính kèm:
- giao_trinh_luat_to_tung_hanh_chinh_viet_nam_diep_thanh_nguye.pdf