Pháp luật và hương ước trong quản lý xã hội nông thôn: Đánh giá từ phía người dân

Tóm tắt Pháp luật và hương ước trong quản lý xã hội nông thôn: Đánh giá từ phía người dân: ... thành viên trong cộng đồng được sống bình đẳng, được tham gia quản lý làng xã, bàn bạc việc làng, được tạo điều kiện lao động sản xuất, được tổ chức hội hè, đình đám, được tôn trọng và thăm hỏi lúc khó khăn, đau yếu, qua đời... 3.2. Việc tiếp nhận hương ước của người dân Việc phổ ... hệ gắn kết cộng đồng làng xã đã bị phá vỡ. Điều này dẫn tới sự gắn bó giữa các thành viên để cùng nhau thực hiện một điều giao ước nào đó không còn như xưa. Một cụm dân cư có sự đa dạng về tộc người, về nghề nghiệp, về thu nhập khó có thể cùng nhau xây dựng và duy trì nên một bản quy ...ộ xử không công bằng nhận được có tỷ lệ lựa chọn là 13,1%, lý do các văn bản luật không phù hợp với thực tiễn địa phương có tỷ lệ là 8,0%, còn các lý do khác có tỷ lệ 10,7%. 15,6% người trả lời không biết/không quan tâm đến vấn đề này. Nhìn chung, theo người dân nông thôn trong cuộc kh...

pdf9 trang | Chia sẻ: havih72 | Ngày: 04/09/2021 | Lượt xem: 106 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Pháp luật và hương ước trong quản lý xã hội nông thôn: Đánh giá từ phía người dân, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g và 10,3% cho là nhằm các mục 
đích khác. Có 4,4% người trả lời không 
biết/không quan tâm đến việc xây dựng 
hương ước/quy ước hiện nay nhằm mục 
đích gì. 
Dưới cái nhìn của người dân, sự tồn tại 
của hương ước là cần thiết. Đối với họ, việc 
xây dựng, thực hiện hương ước sẽ giúp các 
thành viên trong cộng đồng được sống bình 
đẳng, được tham gia quản lý làng xã, bàn 
bạc việc làng, được tạo điều kiện lao động 
sản xuất, được tổ chức hội hè, đình đám, 
được tôn trọng và thăm hỏi lúc khó khăn, 
đau yếu, qua đời... 
3.2. Việc tiếp nhận hương ước của 
người dân 
Việc phổ biến nội dung hương ước tới 
người dân đã được thực hiện khá tốt. 93,4% 
trong số những người có biết tới bản hương 
ước mới nói rằng nội dung hương ước đã 
được phổ biến tới họ, 3,0% cho rằng nội dung 
hương ước không được phổ biến và 3,6% 
không biết/không quan tâm đến việc này. 
Chúng tôi cũng nhận thấy có sự khác biệt 
vùng miền trong tính hiệu quả của việc phổ 
biến các nội dung của hương ước. Hai tỉnh 
Đắk Lắk và Trà Vinh có tỷ lệ người được 
phổ biến về nội dung hương ước thấp hơn so 
với 3 tỉnh còn lại. Tỷ lệ này ở Đắk Lắk là 
78,0%, ở Trà Vinh là 79,4%. Trong khi tỷ lệ 
ở 3 tỉnh Thái Bình, Hòa Bình và Quảng Ngãi 
lần lượt là: 94,9%; 97,3%; 96,2%. 
Hình thức phổ biến hương ước ở hầu hết 
các địa phương là tổ chức các buổi họp dân 
(91,7% người trả lời nêu ra hình thức này). 
Bên cạnh đó, một số địa phương cũng kết 
hợp hình thức thông báo qua loa truyền 
thanh xã/thôn (46,7% người trả lời lựa chọn 
hình thức này) và (31,5% người trả lời hình 
thức này) phổ biến đến từng hộ gia đình 
bằng cách gửi văn bản đến từng nhà; trả lời 
là hình thức khác (0,8% và không biết/không 
quan tâm (0,5%). 
Có 59,7% trong số những người biết có 
bản hương ước mới không biết/không quan 
tâm đến năm mà hương ước của thôn/ấp họ 
được biên soạn. 
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6(91) - 2015 
 92 
3.3. Mức độ biết hương ước của người dân 
Mức độ biết về bản hương ước mới 
Tại các điểm khảo sát, chính quyền địa 
phương đều cung cấp cho nhóm nghiên cứu 
các bản hương ước thôn. Nhưng trên thực 
tế, 24,3% người dân không biết hoặc không 
quan tâm đến việc ở thôn/ấp của họ có 
hương ước hay không, 5,3% người dân 
khẳng định là không có bản hương ước nào 
từ trước đến nay và 6,0% cho rằng ở 
thôn/ấp của họ chỉ có bản hương ước từ 
thời xưa để lại. Trên bình diện chung, tỷ lệ 
người trả lời rằng, họ có biết đến bản hương 
ước mới của thôn/ấp đạt 64,3%. Nói cách 
khác, có 35,7% người trả lời không biết đến 
bản hương ước mới của thôn/ấp. 
So sánh giữa 5 tỉnh, Đắk Lắk và Trà 
Vinh là hai tỉnh có tỷ lệ người dân biết đến 
bản hương ước mới rất thấp, tỷ lệ lần lượt là 
21,5% và 33,0%. Trong khi đó, tỷ lệ người 
dân ở ba tỉnh Thái Bình, Hòa Bình và 
Quảng Ngãi biết có bản hương ước mới 
tương ứng là: 80,8%; 93,5% và 93,0%. 
Mức độ biết nội dung của bản hương 
ước mới. 
Trong số những người biết về bản hương 
ước mới của thôn/ấp mình thì đa số (86,2%) 
cho rằng họ có biết nội dung của bản hương 
ước/quy ước mới, còn lại (13,8%) không 
biết/không quan tâm đến nội dung của nó 
(13,8%). Như vậy, nếu tính trên tổng số 1.000 
người trả lời thì chỉ có hơn một nửa số mẫu 
(55,5%) cho rằng họ có biết nội dung của bản 
hương ước mới của thôn/bản/ấp mình. 
So sánh giữa 5 tỉnh thì Thái Bình, Hòa 
Bình và Quảng Ngãi là ba tỉnh có tỷ lệ 
người cho rằng họ biết về nội dung của bản 
hương ước mới là rất cao, lần lượt là: 
80,2%; 94,7%; và 95,2%. Trong khi đó, 
trong số ít ỏi những người biết đến bản 
hương ước mới ở Đắk Lắk và Trà Vinh thì 
tỷ lệ người dân biết về nội dung của nó 
cũng thấp hơn, thấp nhất là ở Đắk Lắk 
(52,4%). Nếu tính trên tổng số mẫu khảo 
sát ở mỗi tỉnh thì tỷ lệ người dân biết đến 
nội dung của bản hương ước/quy ước mới ở 
Thái Bình là (65,0%), ở Hòa Bình là 
(88,5%), ở Quảng Ngãi là (88,5%), ở Đắk 
Lắk là (11,1%), và ở Trà Vinh (24,0%). 
Được thông báo về việc biên soạn hương 
ước. 
Tại mỗi thôn/ấp, việc tham gia biên soạn 
hương ước do một số thành phần chủ chốt 
tham gia như: trưởng thôn, trưởng các chi 
hội/đoàn thể ở thôn, những người có uy tín 
hoặc hiểu biết về lịch sử của thôn làng. Kết 
quả khảo sát cho thấy, trong số 641 người 
có biết về hương ước mới thì chỉ có 56,2% 
cho biết họ có được thông báo về việc biên 
soạn hương ước/quy ước. Còn lại 32,1% trả 
lời không được thông báo và có 11,7% 
không biết/không quan tâm. So sánh giữa 
các tỉnh cho thấy tỷ lệ người dân trả lời có 
được thông báo về việc biên soạn hương 
ước ở Thái Bình và Hòa Bình là cao hơn 
(61,1% và 71,1%). Trong khi tỷ lệ ở: 
Quảng Ngãi là (44,1%), ở Đắk Lắk là 
(39,0%), và ở Trà Vinh là (46,0%). 
3.4. Mức độ tuân thủ hương ước của 
người dân 
Một trong những đặc điểm của hương ước 
thể hiện ở sự thỏa thuận, cam kết của các 
thành viên trong một cộng đồng dân cư nhất 
định và khả năng bị trừng phạt nếu không 
thực hiện. Khả năng bị trừng phạt nếu làm sai 
tạo nên áp lực về tinh thần để mỗi người nhận 
thức được rằng mình không thể làm khác 
những điều hương ước đã quy định. 
Dữ liệu định tính từ cuộc khảo sát cho 
thấy, sự tồn tại của hương ước mới hiện nay 
chủ yếu mang tính hình thức. Hầu hết cán 
bộ chính quyền địa phương thừa nhận, đã 
có những hành vi vi phạm hương ước. Tuy 
nhiên, chúng tôi chưa ghi nhận được các 
trường hợp bị trừng phạt bởi hương ước vì 
những hành vi vi phạm có liên quan. 
Pháp luật và hương ước... 
 93 
Việc thi hành các điều khen thưởng cũng 
như điều phạt được quy định trong hương 
ước mới khó được thực thi. Chúng tôi cũng 
ghi nhận được trường hợp chính quyền xã 
rơi vào tình trạng khó xử đối với những 
trường hợp vi phạm quy ước. Ví dụ, đó là 
trường hợp để thi thể người chết quá 48 giờ 
theo quy định vì người dân mê tín, muốn 
chọn giờ tốt để phát tang. 
Dưới sự tác động của quá trình hiện đại 
hóa, mối quan hệ gắn kết cộng đồng làng xã 
đã bị phá vỡ. Điều này dẫn tới sự gắn bó 
giữa các thành viên để cùng nhau thực hiện 
một điều giao ước nào đó không còn như 
xưa. Một cụm dân cư có sự đa dạng về tộc 
người, về nghề nghiệp, về thu nhập khó có 
thể cùng nhau xây dựng và duy trì nên một 
bản quy ước mang màu sắc riêng. 
Quy ước ngày nay là sự thể chế hóa hiến 
pháp, pháp luật của Nhà nước trong một 
cộng đồng dân cư cụ thể, thiếu vắng nét đặc 
trưng văn hóa của cộng đồng. Chúng tôi 
cũng nhấn mạnh là, nếu biến hương ước 
thành một thứ cụ thể hóa cho pháp luật thì 
hương ước khó phát huy tác dụng đối với 
cộng đồng. Nếu hương ước không có tính 
tự quản thì không còn được gọi là hương 
ước nữa. Nếu chỉ là sự cụ thể những quy 
định của pháp luật thì hương ước lại mang 
tính phổ biến trong khi hương ước phải 
mang tính đặc thù của cộng đồng. Không ít 
các bằng chứng thực nghiệm cho thấy, 
những tương tác xã hội đa dạng đang diễn ra 
xung quanh việc soạn thảo và thể chế hóa 
hương ước, quy ước tại các thôn xã hiện nay. 
Ở Đắk Lắk - nơi mà tỷ lệ người dân biết 
về bản hương ước thấp nhất, hầu hết cán bộ 
chính quyền cấp cơ sở đều thừa nhận, sự 
tồn tại của hương ước mới hiện nay phần 
nhiều mang tính hình thức và được xây 
dựng theo phong trào. Đặc biệt, đối với 
người dân tộc thiểu số, như người Ê Đê, 
người M’nông, khái niệm hương ước hay 
quy ước khá xa lạ bởi sự hiện diện của luật 
tục trong cộng đồng còn khá rõ. 
Dữ liệu định tính trong những chuyến đi 
điền dã tại tỉnh Đắk Lắk cho chúng tôi thấy 
khá nhiều bản quy ước thôn, buôn ở những 
vùng dân tộc thiểu số tại chỗ sinh sống có 
sự giống nhau về nội dung và cũng có nhiều 
điều khoản của quy ước chưa từng được 
thực thi. Hơn nữa, nhiều cán bộ tư pháp và 
chính quyền cơ sở cũng thừa nhận rằng, có 
biểu hiện “hình thức, phong trào, làm cho 
có” trong quá trình xây dựng và thực hiện 
quy ước thôn, buôn trên địa bàn tỉnh. 
Tuy nhiên, tại tỉnh Đắk Lắk, quy ước của 
một số buôn người Ê Đê đã được soạn theo 
cách chứa đựng các yếu tố riêng biệt của 
cộng đồng và có ghi nhận rằng, quy ước đã 
được viện dẫn khá hiệu quả trong công tác 
hòa giải cơ sở. Trong khi khá nhiều bản quy 
ước kém hiệu lực thực thi thì quy ước của 
một số buôn người Ê Đê đã được sử dụng 
bởi chính quyền địa phương như một công 
cụ tham gia vào quá trình quản lý cộng 
đồng, trong đó các điều khoản luật tục được 
xem là tích cực được lồng ghép với luật 
pháp và những điều khoản trong quy ước 
được dùng như nguồn viện dẫn chính trong 
hoạt động của tổ hòa giải cơ sở. 
4. Không gian pháp luật trong xã hội 
nông thôn 
4.1. Sự tiếp nhận pháp luật của người dân 
Người dân nhận được thông tin về pháp 
luật từ nhiều nguồn khác nhau. Trong đó, 
các phương tiện thông tin đại chúng như 
tivi, báo, đài là nguồn thông tin mà qua đó 
hầu hết người dân ở nông thôn nắm được 
thông tin về pháp luật (chiếm 84,8%). Các 
hình thức truyền thông truyền thống như 
họp thôn và thông báo qua loa truyền thanh 
xã/thôn cũng giúp nhiều người dân có được 
thông tin về pháp luật. Việc tổ chức các 
buổi họp thôn có lồng ghép với tuyên 
truyền pháp luật đang được xem là có hiệu 
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6(91) - 2015 
 94 
quả khi mà có tới 66,3% người dân biết tới 
pháp luật dựa vào nguồn này. Có 54,9% 
người dân biết thông tin pháp luật từ thông 
báo của loa truyền thanh xã/thôn. Loa 
truyền thanh xã/thôn chính là kênh thông 
tin mà chính quyền địa phương cấp xã hoàn 
toàn chủ động lập kế hoạch và thực hiện 
công tác tuyên truyền pháp luật. 
Như vậy, mặc dù luật pháp đến với 
người dân từ nguồn thông tin đa dạng và 
với những hình thức phong phú nhưng 
nhiều cán bộ chính quyền cấp xã nhận định 
rằng, pháp luật không chỉ khó hiểu đối với 
người dân mà khó hiểu đối với ngay cả cán 
bộ, đặc biệt ở những vùng có người dân 
thiểu số sinh sống. 
4.2. Nhận định của người dân về mức 
độ tuân thủ pháp luật của những người 
xung quanh 
Phần lớn người dân đồng ý với những 
nhận định chung rằng cán bộ chính quyền 
xã là những người có hiểu biết tốt về pháp 
luật; là những người gương mẫu thực hiện 
pháp luật và chính sách của Đảng và Nhà 
nước và thực thi pháp luật đảm bảo công 
bằng, minh bạch, công khai, ít tốn kém. 
Khi nhận xét về việc liệu những người 
xung quanh (họ hàng, bạn bè, hàng xóm) 
có tuân thủ pháp luật không, 68,1% người 
dân nông thôn cho rằng hầu hết mọi người 
đều tuân thủ pháp luật; 25,2% người dân 
nông thôn cho rằng có nhiều người tuân 
thủ pháp luật, 6,7% người dân nông thôn 
có ý kiến khác. 
Có sự khác biệt khi nhận xét về việc tuân 
thủ pháp luật của những người xung quanh 
của người trả lời theo một số nhóm như khu 
vực sống, dân tộc và trình độ học vấn. Giữa 
người Kinh và người dân tộc khác thì người 
Kinh nhận xét tích cực hơn về việc tuân thủ 
pháp luật của những người xung quanh khi 
72,1% người Kinh cho rằng hầu hết mọi 
người đều tuân thủ pháp luật, trong khi tỷ lệ 
này ở người dân tộc khác là 64,9%. Trong 
số ba nhóm trình độ học vấn khác nhau thì 
nhóm không đi học/tiểu học có nhận xét 
không tích cực bằng hai nhóm học vấn cao 
hơn (THCS và THPT). Nhận xét của người 
dân cho thấy hiện tượng vi phạm pháp luật 
chỉ xảy ra ở một số người nhất định nào đó, 
còn đa số người dân đều tuân thủ pháp luật. 
Khi được hỏi về những lý do khiến cho việc 
áp dụng pháp luật tại địa phương gặp khó 
khăn, có thể thấy hai lý do có tỷ lệ người trả 
lời lựa chọn cao nhất là: do người dân ít 
hiểu biết về luật pháp (49,6%) và do người 
dân thích giải quyết bằng tình hơn là lý 
(33,3%). Lý do cán bộ xử không công bằng 
nhận được có tỷ lệ lựa chọn là 13,1%, lý do 
các văn bản luật không phù hợp với thực 
tiễn địa phương có tỷ lệ là 8,0%, còn các lý 
do khác có tỷ lệ 10,7%. 15,6% người trả lời 
không biết/không quan tâm đến vấn đề này. 
Nhìn chung, theo người dân nông thôn 
trong cuộc khảo sát này thì trở ngại chủ 
yếu trong việc áp dụng pháp luật tại địa 
phương là từ phía người dân chứ không 
phải do văn bản pháp luật hay do người 
thực thi pháp luật. 
4.3. Xu hướng lựa chọn luật pháp của 
người dân 
Tỷ lệ các hộ gia đình có khiếu kiện 
chiếm 14% trong số 1.000 hộ được khảo 
sát. Trong trường hợp này, xu hướng chung 
là các hộ gia đình đi tìm kiếm sự giúp đỡ từ 
bên ngoài. Số hộ tự giải quyết, không nhờ 
ai khi có khiếu kiện chỉ là 4,9%. Tương tự 
như khi gặp xích mích và mâu thuẫn, tranh 
chấp, chính quyền xã/thôn/ấp vẫn là nơi mà 
đa số hộ gia đình tìm đến để giải quyết 
khiếu kiện. Tỷ lệ hộ nhờ chính quyền 
xã/thôn/ấp giải quyết khiếu kiện đạt tỷ lệ 
cao nhất là 81,3%. 
Các nhóm, tổ chức khác có tỷ lệ hộ gia 
đình tìm đến để được giúp đỡ đạt tỷ lệ thấp 
hơn nhiều so với nhờ chính quyền xã/thôn/ấp. 
Pháp luật và hương ước... 
 95 
Tuy nhiên, có thể thấy vai trò của cán bộ 
tư pháp ở đây nổi bật hơn, cụ thể, có 9,8% 
hộ gia đình nhờ cán bộ tư pháp để giải 
quyết khiếu kiện. Một số hộ gia đình cũng 
tìm đến tổ chức Đảng ở xã/thôn/ấp và tổ 
hòa giải (tỷ lệ lần lượt là 4,1% và 3,3%). 
Đặc biệt, không có hộ gia đình nào nhờ 
đến tổ chức đoàn thể, gia đình, họ hàng và 
bạn bè để được giúp đỡ trong trường hợp 
có khiếu kiện. 
Như vậy, vai trò của cán bộ tư pháp thể 
hiện khá rõ trong việc giải quyết các vụ khiếu 
kiện hoặc liên quan đến thủ tục giấy tờ. 
4.4. Vai trò của tổ hòa giải cơ sở 
Trong tổng số 1.000 người được khảo 
sát, 32,3% người trả lời cho rằng gia đình 
họ có gặp chuyện xích mích. Trong lần xích 
mích gần đây nhất, (51,7%) hộ gia đình tự 
giải quyết, không nhờ ai. Những hộ gia 
đình tìm sự giúp đỡ để giải quyết xích mích 
thì chiếm tỷ lệ cao nhất là nhờ chính quyền 
xã/thôn/ấp (chiếm 35,6%). Tiếp đến, chiếm 
tỷ lệ thứ hai và thứ ba là nhờ tổ hòa giải 
(16,4%) và nhờ gia đình, họ hàng (14,2%). 
Các nhóm, tổ chức khác như cán bộ tư 
pháp, tổ chức đảng ở xã/thôn/ấp, tổ chức 
đoàn thể và bạn bè không phải là nhóm, tổ 
chức mà đa số các hộ gia đình tìm đến nhờ 
sự trợ giúp khi họ gặp chuyện xích mích. 
Tuy nhiên, khi gia đình có mâu thuẫn, 
tranh chấp (17,8% hộ gia đình gặp phải 
chuyện này) thì có 8,4% là tự giải quyết, 
không nhờ ai. Trong khi đó, tỷ lệ hộ gia 
đình nhờ sự giúp đỡ của chính quyền 
xã/thôn/ấp để giải quyết tranh chấp là 
79,8%; tiếp đó là nhờ sự giúp đỡ của tổ 
hòa giải là (12,4%). Các nhóm, tổ chức 
khác ít khi được các hộ gia đình tìm đến 
nhờ giúp đỡ khi gia đình họ có mâu thuẫn, 
tranh chấp. 
Đánh giá về các tổ chức/cá nhân (tổ hòa 
giải, đoàn thể chính trị xã hội) thực hiện việc 
hòa giải ở địa phương, 78,2% người trả lời 
cho rằng hiệu quả, 7,8% người trả lời cho 
rằng hiệu quả nhưng ít, chỉ có 1,9% người 
trả lời đánh giá là không có hiệu quả. Còn lại 
có 12,1% người trả lời không biết/không 
quan tâm đến hoạt động của tổ hòa giải nên 
không đưa ra được ý kiến đánh giá. 
Sự lựa chọn này có thể được lý giải theo 
tiếp cận nhân học rằng, trong những xã hội 
có mối quan hệ xã hội chặt chẽ và ổn định 
lâu dài thì người ta thường dùng cơ chế hòa 
giải trong giải quyết xung đột. Còn trong 
những xã hội có mối quan hệ lỏng lẻo và 
không lâu dài thì người ta thường giải quyết 
xung đột thông qua phán quyết. 
5. Kết luận 
Sự khác biệt về các đặc điểm nhân khẩu 
học, đặc điểm xã hội của người dân cũng 
như khác biệt vùng miền là những yếu tố 
dẫn tới sự khác biệt về mức độ người dân ở 
vùng nông thôn tham gia bàn bạc và giám 
sát về những vấn đề ở địa phương hiện nay. 
Nếu như vào những năm 2000 - 2010, 
nhiều hương ước được cho là xây dựng tự 
phát, mỗi nơi một kiểu, chứa đựng các điều 
khoản không đúng tinh thần pháp luật, 
không thuộc thẩm quyền, can thiệp quá sâu 
vào đời sống cá nhân, thậm chí vi phạm các 
chuẩn mực đạo đức, các cơ quan quản lý 
nhà nước đã có những văn bản chỉ đạo 
hướng dẫn và giám sát việc ban hành hương 
ước thì hiện nay, hương ước hay quy ước 
thôn/buôn ở các địa phương lại thường 
được soạn theo mẫu và ban hành mang tính 
hình thức. Sự khác biệt giữa các cụm dân 
cư chưa được thể hiện trong suốt quá trình 
xây dựng, ban hành và thực thi hương ước. 
Mặc dù dưới cái nhìn của người dân, sự tồn 
tại của hương ước thể hiện nguyện vọng 
của người dân về việc thực hiện, bảo vệ các 
lợi ích chính đáng, nhưng hiệu lực thực tế 
của hương ước trong điều tiết xã hội hiện 
nay cần được xem xét thấu đáo hơn trong 
bối cảnh hầu hết làng, khối phố, cụm dân 
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6(91) - 2015 
 96 
cư được báo cáo là đã xây dựng hương ước 
và triển khai thực hiện. 
Về vấn đề thiết lập các điều kiện thuận 
lợi để người dân tiếp cận, sử dụng pháp luật 
nhằm thực thi quyền, nghĩa vụ của mình 
cũng như bảo vệ các quyền và lợi ích hợp 
pháp, tham gia quản lý nhà nước, quản lý 
xã hội, cần chú ý tới sự khác biệt vùng miền 
cũng như các đặc điểm xã hội của người 
dân. Vai trò của hòa giải cấp cơ sở và tiếng 
nói của những người có uy tín trong cộng 
đồng hiện đang thể hiện như yếu tố tích cực 
trong tương quan mối quan hệ pháp luật và 
hương ước. Việc tạo ra những cơ hội để có 
thêm sự tương tác, bổ trợ giữa hệ thống 
pháp luật và hương ước nên được chú ý. 
Tuy nhiên, hương ước phải được hình thành 
như là sản phẩm của chính cộng đồng cư 
dân, từ nhu cầu quản lý xã hội, là nhu cầu 
của người dân trên tinh thần tự nguyện, 
thỏa thuận của người dân và gắn liền với 
đặc điểm của từng thôn làng. 
Nên xem xét việc có cần thiết xây dựng 
hương ước ở những cụm dân cư có sự đa 
dạng về tộc người, về nghề nghiệp, về thu 
nhập, nơi mà các thành viên cộng đồng khó 
có thể cùng nhau xây dựng nên một bản 
quy ước mang màu sắc riêng. Vấn đề này 
cũng nên được xem xét ở những vùng dân 
tộc thiểu số mà luật tục còn hiện diện khá 
rõ và đang có hiệu lực thực tế trong quản lý 
cộng đồng. 
Những nỗ lực của Nhà nước thừa nhận 
bằng cách “chính thức hóa” hương ước hay 
luật tục thông qua mô hình xây dựng hương 
ước, qui ước là không thể phủ nhận. Thực 
tế, hương ước, quy ước đang được chính 
quyền và người dân địa phương xem như 
một công cụ tham gia vào quá trình quản trị 
cộng đồng. Vì vậy, hương ước, quy ước bên 
cạnh việc nên được cập nhật với tình hình 
thực tế tại cộng đồng thì cần nhận diện cơ 
chế đích thực, con người cụ thể từ cộng 
đồng đóng vai trò chủ chốt để duy trì tập 
tục, quản trị cộng đồng cũng như hòa giải 
các vướng mắc. 
Tài liệu tham khảo 
1. Bộ Tư pháp - Bộ Văn hóa - Thông tin - Ủy 
ban TWMTTQ Việt Nam (2000), Thông tư liên tịch 
hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, 
quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư. 
2. Thomas Barfield (1999), The Dictionary of 
Anthropology, Blackwell Publishers 
3. Bùi Quang Dũng (2013), “Hương ước và mấy 
vấn đề quản lý xã hội nông thôn hiện nay”, Tạp chí 
Xã hội học, số 1. 
4. Ninh Viêt Giao (2000), “Từ hương ước đến 
Quy ước trong xã hội ngày nay”, Luật tục và phát 
triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam, Nxb Chính trị 
quốc gia, Hà Nội. 
5. Đinh Gia Khánh (1995), Văn hóa dân gian Việt 
Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam, Nxb Chính 
trị quốc gia, Hà Nội. 
6. Kim Long (2015), “Phát huy dân chủ trong soạn 
thảo quy ước, hương ước”,  
truy cập ngày 28/2/2015. 
7. Trần Hữu Quang (2007), Xã hội học pháp quyền, 
Tài liệu dành cho học viên cao học, Trường Đại học 
Khoa học xã hội và nhân văn Tp. Hồ Chí Minh. 
8. Bùi Hồng Quý (2012), Luật tục và ảnh hưởng 
của luật tục trong thực hiện pháp luật của đồng bào 
dân tộc M’nông ở Tây Nguyên (qua khảo cứu tại 
tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông), Luận văn thạc sĩ 
luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 
Hà Nội 
9. Đào Trí Úc, Phạm Hữu Nghị (1993), “Quy 
ước làng, một yếu tố quan trọng trong hệ thống các 
quy tắc điều chỉnh các quan hệ xã hội ở nông thôn”, 
Xây dựng quy ước làng văn hóa ở Hà Bắc, Sở Văn 
hóa thông tin và Thể thao Hà Bắc. 
10. Ủy ban nhân dân xã Ea Blang (2003), Quy 
ước buôn Tring. 
11. (2015), Lời giới thiệu Tuyển tập Hương ước 
tục lệ Thăng Long Hà Nội, www.nxbhanoi.com.vn 
Truy cập ngày 28/2/2015. 
Pháp luật và hương ước... 
 97 

File đính kèm:

  • pdfphap_luat_va_huong_uoc_trong_quan_ly_xa_hoi_nong_thon_danh_g.pdf