Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam thời kỳ phong kiến và Pháp thuộc

Tóm tắt Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam thời kỳ phong kiến và Pháp thuộc: ... T.T. Hạnh / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 31, Số 2 (2015) 13-19 15 sai phải bị phạt 80 trượng; quan nhận những đơn sai sự thật này, mà không nghiên cứu kỹ vẫn đem ra xét xử thì bị phạt tiền 30 quan [2, tr 194]. Khi thu thập chứng cứ, các quan lại phải theo trình tự nhất định. Việ...ch của giai cấp phong kiến. Tuy nhiên, bên cạnh những hạn chế mang tính chất thời đại của chế độ phong kiến, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam thời kỳ này đã có nhiều điểm tiến bộ, trong đó có những qui định thể hiện nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng và người...u tòa đệ tam cấp có chia ban, thì họp ban thứ nhất. Nếu quan thẩm phán An nam ở ban thứ nhất xin hồi tị, thì lấy quan thẩm phán ở ban thứ nhì thay. Nếu quan thẩm phán ở ban thứ nhì có bận việc hay là cũng xin hồi tị thì sẽ do quan viện trưởng tòa Thượng thẩm cử một quan thẩm nghị Đại – P...

pdf7 trang | Chia sẻ: havih72 | Lượt xem: 268 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam thời kỳ phong kiến và Pháp thuộc, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
rị xã 
hội. Những triều đại sau này của Nhà nước 
phong kiến Việt Nam đã tiếp tục và phát triển 
tư tưởng đó trong các bộ luật của mình như: 
Quốc triều Hình luật (Thời Lê), Hoàng Việt luật 
lệ (Thời Nguyễn)... Đặc biệt, Quốc triều Hình 
luật được đánh giá là bộ luật có nhiều nét tiến 
bộ so với đương thời, thể hiện tư tưởng pháp trị 
kết hợp hài hoà với đức trị của Lê Thánh Tông: 
“Tôi nghĩ rằng Lê Thánh Tông là một người tôn 
sùng Nho giáo, một nhà Lý học theo phái Tống 
nho, nhưng ông biết kết hợp tư tưởng Nho giáo, 
T.T. Hạnh / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 31, Số 2 (2015) 13-19 
14 
tư tưởng đức trị và lễ trị với tư tưởng pháp trị 
trên một tinh thần và ý thức dân tộc sâu sắc” [1, 
tr 18]. Mặc dù với tên gọi là “Quốc triều Hình 
luật” nhưng nó là văn bản tổng hợp chứa đựng 
qui phạm của nhiều ngành luật khác nhau trong 
đó có qui phạm luật tố tụng hình sự (TTHS). 
Thông qua đó chúng ta thấy rằng việc giải 
quyết vụ án hình sự do một cơ quan tiến hành, 
tập trung vào tay vị quan lại đứng đầu địa 
phương, tuy nhiên vị quan này cũng lập ra 
những quan giúp việc: “quan tra hỏi tù phạm”, 
“quan xét hỏi” [2, tr 239-240] đó là những 
người làm công tác điều tra và xét hỏi trong quá 
trình giải quyết vụ án. Ngoài Bộ Hình đã có từ 
thời kỳ trước, Lê Thánh Tông đã lập thêm Đại 
lý tự và Đề hình (soát xét việc xét xử đúng hay 
sai). Điều này được minh chứng bởi Sắc chỉ 
định chức danh của quan Đề hình năm 1471 
“Từ Hình bộ thượng thư trở xuống, tới Đại lý tự 
và các ngục quan, người nào tha tội hay buộc 
tội cho người không đúng pháp luật thì phải tâu 
hặc. Người có tội bị oan uổng cũng phải xét lại 
và minh oan cho họ”. Đồng thời thời kỳ này 
quy định cụ thể vể tiêu chuẩn của hình quan 
trong Sắc chỉ năm 1480: “Hình quan là chức 
quan quan trọng, phải chọn người có sở 
trường. Quan các ty ở Hình bộ, không kể là nho 
hay lại, nếu tài năng kiến thức nông cạn, không 
am hiểu về hình danh, thì đường quan bộ ấy lựa 
thải ra”. Về người làm chứng trong Quốc 
triều Hình luật đã có quy định: “Những người 
là chứng trong việc kiện tụng nếu xét ra ngày 
thường đôi bên kiện tụng là người thân tình hay 
có thù oán, thì không cho phép ra làm chứng. 
Nếu những người ấy giấu giếm ra làm chứng, 
thì bị khép vào tội không nói đúng sự thực” [2, 
tr 257]. Việc quy định này cũng nhằm bảo đảm 
sự vô tư của người làm chứng khi tham gia vào 
tố tụng trong thời kỳ này. 
Sự cách tân rõ nhất của Lê Thánh Tông là 
chế độ quan lại luôn ràng buộc, giám sát lẫn 
nhau trong các lĩnh vực công quyền phần nào 
đã thể hiện nguyên tắc bảo đảm sự vô tư trong 
hoạt động tố tụng. Nhà vua quy định quyền 
hạn, trách nhiệm rõ ràng cho từng bộ phận, 
khu vực, quan lại trên cơ sở đó trách nhiệm 
giám sát lẫn nhau. 
Mỗi bộ làm một việc; các bộ chịu sự giám 
sát của các khoa,các Hiến ty giám sát việc của 
các đạo; các quan lại chịu sự giám sát lẫn 
nhau, quan trên giám sát quan dưới, vua có thể 
sai một số quan thường xuyên hoặc đột xuất 
kiểm tra, giám sát công việc các các quan khác. 
Cho công sai hoặc bản thân người thợ, dân tố 
cáo với các quan giám sát, ngự sử, hiến sát về 
hành vi những nhiễu của các công sai [3, tr 75]. 
Thời kỳ này đã lấy thước đo về học vấn và 
đức độ làm tiêu chuẩn dùng người, hạn chế 
hoặc có lúc bỏ chế độ bổ dụng theo kiểu “cha 
truyền con nối”. Một trong những qui định khá 
tiến bộ của Quốc triều Hình luật là xác định, 
yêu cầu phải làm đúng trách nhiệm, bổn phận 
của các cấp quan lại, không được lợi dụng chức 
vụ để sách nhiễu, vì ân oán cá nhân. Điều 197 
trong Quốc triều Hình luật có quy định: “Những 
quan liên phóng (quan mật tra) mật xét việc 
phải đúng sự thật, nếu sơ xuất sai lầm, thì bị tội 
biếm hoặc đồ. Nếu vì báo ân báo oán, hay ăn 
hối lộ mà đổi trắng thay đen, thì không kể việc 
lớn hay nhỏ, ăn nhiều hay ăn ít, đều xử tội lưu 
hay tội chết” hay Điều 199 có ghi: “Các quan 
đang tại chức, mà trễ nhác việc công thì bị phạt 70 
trượng, biếm ba tư và bãi chức. Nếu trễ nhác để 
xảy ra việc gì, thì tội thêm một bậc” [2, tr 94]. 
Ngoài ra, những quy định cụ thể về thủ tục 
tố tụng trong Quốc triều Hình luật cũng thể hiện 
việc bảo đảm giải quyết vụ án một cách khách 
quan, những người thực hiện giải quyết vụ án 
cũng như những người liên quan phải vô tư, 
liêm khiết. Trách nhiệm của người tố cáo tội 
người khác là phải trình bày sự thật, không 
được nói là việc đó không đáng tin. Nếu tố cáo 
T.T. Hạnh / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 31, Số 2 (2015) 13-19 15 
sai phải bị phạt 80 trượng; quan nhận những 
đơn sai sự thật này, mà không nghiên cứu kỹ 
vẫn đem ra xét xử thì bị phạt tiền 30 quan [2, tr 
194]. Khi thu thập chứng cứ, các quan lại phải 
theo trình tự nhất định. Việc xét hỏi được qui 
định thành một qui trình và chú ý tới tính khách 
quan của lời khai: “Khi lấy khẩu cung người 
phạm tội, quan tra án phải xem xét kỹ, tìm ra sự 
thực để cho người phạm tội phải nhận tội, 
không được hỏi quá rộng cả đến người ngoài 
để tìm chứng cứ bậy” [2, tr 239] Chỉ khi nào: 
“Nếu xét đi, xét lại, còn chưa quyết định được 
tội, cần phải tra hỏi nữa, thì phải lập hội đồng 
các quan án, rồi mới tra khảo”. “Tra khảo tù 
phạm không được quá 3 lần” [2, tr 240]. Đồng 
thời để phòng ngừa quan lại tham nhũng, nhận 
hối lộ trong quá trình xử án, làm trái pháp luật, 
Điều 664 có quy định: “Viên coi ngục nhận tài 
vật của tù nhân mà xui bảo thay đổi lời cung, 
hay ngầm bảo lời lẽ để thêm bớt tội, thì khép 
vào tội làm trái pháp luật.”[2, tr 238]. Quan xử 
án phải có trách nhiệm phải vô tư, không được 
thiên vị bao che cho người quyền quý phạm tội. 
Nếu làm trái luật thì sẽ bị xử phạt [2, tr 243]. 
Điều 679 nghiêm cấm quan lại xử tội người 
phạm tội tùy tiện, trái luật. Quan xét xử, nếu xử 
tội không đúng luật quy định thì xử tội xuy 
đánh 30 roi, nếu để tội nhân bị chế thì xử biếm 
[2, tr 244]. Quan lại có quan hệ thân thích với 
người đi kiện hay người bị kiện phải xin thay 
đổi ngục quan. Việc đề nghị thay đổi phải có lý 
do chính đáng thì vụ án đó mới được giao sang 
cho cơ quan khác xét xử. Nếu vì tình ý riêng mà 
cố ý giữ việc xét xử lại thì bị phạt. Hoặc không 
được làm quan và do vậy không được tiến hành 
tố tụng trên quê hương của mình[2, tr 240]. 
Nếu vụ án đó được xét lại thì phải mang sang ty 
khác xét xử. Các quan xử án đã xử vụ án đó 
không được phép ngồi xử lại án đó [2, tr 248]. 
Quan lại không được dung túng cho những 
người kiện tụng đi lại nhà riêng để xúi bảo lời 
lẽ làm đảo điên trái phải, thì đều bị tội [2, tr 
256]. Như vậy, Quốc triều Hình luật tuy không 
quy định cụ thể về các nguyên tắc của tố tụng 
hình sự nhưng cũng đã có những quy định 
mang tính nguyên tắc thể hiện được nội dung 
của một số nguyên tắc như nguyên tắc xác định 
sự thật vụ án, nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể 
và quyết định theo đa số, nguyên tắc xét xử công 
khai, nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến 
hành tố tụng và người tham gia tố tụng. 
 Đến thế kỷ XIX, Hoàng Việt luật lệ triều 
Nguyễn cũng chứa đựng nhiều qui phạm pháp 
luật tố tụng hình sự qui định việc kiện tụng, 
điều tra và xét hỏi đòi hỏi những người tiến 
hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải 
trung thực, có trách nhiệm trong việc giải quyết 
vụ án như quy định về xét nghiệm xác chết bị 
thương không đúng sự thật (Điều 377): Phàm 
quan ti giữ việc xét nghiệm thây chết (vì bị 
thương) được giấy gởi mời đi mà thối thác, dây 
dưa không đi xét nghiệm ngay để đến nỗi thây 
biến dạng. Và có đến xét nghiệm nhưng không 
đích thân đến ngay chỗ thây chết để xem xét, lại 
ủy lại cho tốt làm (rồi ức đoán thêm bớt vết 
thương kia). Nếu lần đầu xét qua, rồi đến phúc 
nghiệm, quan lại cùng thấy mà thông đồng 
nhau về trạng thái của thây chết. Và tuy đích 
thân có đến xem xét, nhưng lại không dụng tâm 
xét nghiệm, lại đổi dời nặng, nhẹ, thêm bớt. Sự 
xét thây chết bị thương này không đúng sự thật 
là do định chấp nhằm hại người đến nỗi căn do 
đưa đến chết cũng mập mờ. Trường hợp này, 
chính quan bị phạt 60 trượng, quan thủ lãnh 70 
trượng, lại điển 80 trượng. [4, tr 1009-1010]. 
Nhìn chung các triều đại phong kiến Việt 
Nam đã có những qui định về điều tra, xét xử 
và thi hành án hình sự, nhưng các qui định này 
chưa thành ngành luật tố tụng hình sự một cách 
độc lập như hiện nay mà được qui định ở những 
văn bản pháp luật chung với các qui phạm pháp 
luật khác. Mặc dù đã có tiến bộ nhất định song 
T.T. Hạnh / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 31, Số 2 (2015) 13-19 
16 
luật tố tụng hình sự phong kiến còn đơn giản, 
việc phân định các cơ quan điều tra, truy tố xét 
xử chưa rõ ràng, các phương tiện pháp lý để 
bảo vệ lợi ích của bị can, bị cáo gần như chưa 
được qui định, phương pháp xét hỏi bằng tra 
khảo vẫn được dùng phổ biến trong quá trình 
giải quyết vụ án. Những qui định này phản ánh 
ý thức hệ và lợi ích của giai cấp phong kiến. 
Tuy nhiên, bên cạnh những hạn chế mang 
tính chất thời đại của chế độ phong kiến, pháp 
luật tố tụng hình sự Việt Nam thời kỳ này đã có 
nhiều điểm tiến bộ, trong đó có những qui định 
thể hiện nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của 
những người tiến hành tố tụng và người tham 
gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tất 
cả những qui định nêu trên đã khẳng định Luật 
tố tụng hình sự của các triều đại phong kiến 
Việt Nam đã chú ý tới sự vô tư của quan xử án, 
những người tiến hành tố tụng khác cũng như 
những người tham gia tố tụng nhằm bảo đảm 
tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án 
là tiền đề của việc ra các phán quyết đúng 
người, đúng tội của quan tòa. Đây là điểm tiến 
bộ so với đương thời và cũng là cơ sở để pháp 
luật tố tụng hình sự những giai đoạn sau này 
của Việt Nam kế thừa. 
Đến thời kỳ Pháp thuộc từ năm 1858, luật 
tố tụng hình sự nước ta bị ảnh hưởng và chịu sự 
chi phối của pháp luật tư sản. Thực dân Pháp 
đặt ra ở mỗi miền một chế độ cai trị và một hệ 
thống pháp luật khác nhau. Tại Trung kỳ có Bộ 
luật tố tụng hình sự Trung kỳ ban hành năm 
1933, ở Bắc kỳ có Bộ luật Bắc kỳ ban hành 
năm 1921, còn ở Nam kỳ được coi là thuộc địa 
của Pháp nên áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự 
của nước Pháp theo Sắc luật 25/7/1864. 
Theo qui định của các bộ luật này, thì ở 
Việt Nam có hai hệ thống Toà án: Những Toà 
án xét xử người phạm tội bản xứ, Toà án xét xử 
người Pháp và người nước ngoài phạm tội ở 
Việt Nam. Cả hai hệ thống Toà án này đều 
thành lập ở cấp tỉnh Toà án sơ thẩm và có ba 
Toà xét xử phúc thẩm ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn 
để xét xử lại bản án sơ thẩm có chống án ở ba 
miền Bắc - Trung - Nam. Viện công tố chỉ được 
thành lập ở Toà án phúc thẩm, còn Toà cấp sơ 
thẩm không có viện công tố, việc điều tra được 
giao cho ngành cảnh sát tiến hành. Các nguyên 
tắc tố tụng tư pháp trong đó có nguyên tắc bảo 
đảm sự vô tư của thẩm phán được qui định 
trong các bộ luật này khá đầy đủ. 
Bắc kỳ Pháp viện biên chế (Code 
d'organisation judiciaire du Tonkin) ban hành 
năm 1921 được áp dụng ở Bắc kỳ thời kỳ thuộc 
Pháp đã qui định khá đầy đủ căn cứ từ chối (hồi 
tỵ) hoặc buộc phải (cáo tỵ) thay đổi Thẩm phán 
cũng như thẩm quyền, thủ tục thay đổi thẩm 
phán trong quá trình tiến hành tố tụng. Điều 23 
của Bắc kỳ Pháp viện biên chế qui định căn cứ 
hồi tỵ, cáo tỵ gồm có ba căn cứ, đó là: (a) Thẩm 
phán có quan hệ thân thuộc với bên nguyên 
hoặc bên bị “Hoặc là quan thẩm phán đối với 
bên nguyên hay là bên bị là vai họ nội từ hàng 
anh em con chú con bác trở lại, hay là vai họ 
ngoại từ hàng cậu và hàng cháu trở lại”; (b) 
Thẩm phán có quan hệ kiện tụng với bên 
nguyên hoặc bên bị “Hoặc là quan thẩm phán 
đối với bên nguyên hay là bên bị, hiện đương có 
việc kiện hay là trước đã có việc kiện mà án 
nhất định kết chưa quá một năm”; (c) Thẩm 
phán có lợi ích liên quan đến vụ kiện “ Hoặc là 
quan thẩm phán đối với việc kiện đương thưa ở 
tòa, có lợi – quyền gì hiện có can thiệp đến 
mình.”. Những căn cứ này được đưa ra nhằm 
bảo đảm sự vô tư cho thẩm phán trong quá trình 
tố tụng giải quyết vụ án và khá tương đồng với 
những căn cứ của pháp luật hiện nay ở nước ta 
cũng như pháp luật quốc tế. Nếu có một trong 
những căn cứ này thì phải hồi tỵ nếu không sẽ 
bị cáo tỵ: “Bất cứ thuộc về án vụ nào, quan 
thẩm phán An nam cũng có thể tự xin hồi tị hay 
là bị người đương sự cáo tị vì những duyên cớ” 
đã nêu trên. 
T.T. Hạnh / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 31, Số 2 (2015) 13-19 17 
Thẩm quyền, thủ tục hồi tỵ, cáo tỵ cũng 
được qui định từ Điều 24 đến Điều 29 của Bắc 
kỳ pháp viện biên chế. 
Thẩm quyền hồi tỵ cáo tỵ được qui định: 
Nếu quan thẩm phán sơ cấp xin hồi tị, thì phải 
làm một tờ trình nói rõ lý do, đệ trình lên quan 
chánh án tòa đệ nhị cấp; quan chánh án tòa ấy 
xem xong, phê ý kiến vào rồi chuyển trình lên 
quan chánh án tòa đệ tam cấp. Nếu quan thẩm 
phán An nam tòa đệ nhị cấp xin hồi tị, thì phải 
làm một tờ trình nói rõ lý do, đệ lên quan chánh 
án tòa mình; quan chánh án xem xong, phê ý 
kiến, rồi chuyển trình lên quan chánh án tòa đệ 
tam cấp. Nếu quan thẩm phán An nam tòa đệ 
tam cấp xin hồi tị, thì phải làm một tờ trình đệ 
lên quan chánh án tòa ấy. Quan chánh án Tòa 
đệ tam cấp, tiếp được tờ trình sẽ sức cho biện 
minh các lẽ rồi họp tòa ấy lại, nghe ý kiến quan 
Chưởng lý để quyết nghị trong phòng nghị sự. 
Nếu tòa đệ tam cấp có chia ban, thì họp ban thứ 
nhất. Nếu quan thẩm phán An nam ở ban thứ 
nhất xin hồi tị, thì lấy quan thẩm phán ở ban thứ 
nhì thay. Nếu quan thẩm phán ở ban thứ nhì có 
bận việc hay là cũng xin hồi tị thì sẽ do quan 
viện trưởng tòa Thượng thẩm cử một quan thẩm 
nghị Đại – Pháp ở ban thứ nhì, hay là cử một 
quan thẩm nghị Đại pháp nào ở trong tòa sung 
vào ban thứ nhất; trong trường hợp ấy, ban thứ 
nhất sẽ xét xử, không có quan An nam bồi 
thẩm. Quyết nghị thế nào, sẽ do quan chánh án 
tòa đệ tam cấp thông đạt cho quan thẩm phán 
xin hồi tị; cách thông đạt cũng theo cùng một 
đường lối chuyển đề tờ trình như trước. Nếu tờ 
trình xin hồi tị xét ra có lý, nếu quan thẩm phán 
xin hồi tị không có quan trợ thẩm để mà thay, 
thì quan Chưởng lý sẽ thông trị cho quan Nam 
án thủ hiến, để quan thủ hiến hợp ý với quan 
Thống sự Bắc kỳ lựa chọn người thay. Nếu tờ 
trình xin hồi tị xét ra vô lý, thì quan thẩm 
phán xin hồi tị phải tuân theo định lệnh của 
tòa đệ tam cấp. Tờ trình xin hồi tị phải làm 
trước khi chưa bắt đầu công phán thuộc về 
tình lý việc kiện.” 
Thủ tục cáo tỵ được qui định: Nếu cáo tỵ 
quan thẩm phán sơ cấp, thì đơn đệ lên quan 
chánh án tòa đệ nhị cấp; Nếu cáo tị quan thẩm 
phán An nam tòa đệ nhị hay là đệ tam cấp thì 
làm đơn đệ lên quan chánh án tòa đệ tam cấp; 
Đơn xin cáo tị phải theo thể lệ trong luật dân sự 
tố tụng định về đơn khởi kiện, cần nhất phải 
hợp hai cái lệ sau này, không thì bị bác cho là 
bất khả thụ lý, không cần phải xét: a) Thời kỳ 
đệ đơn chậm nhất phải vừa sau khi giải hòa mà 
giải hòa không xong, hay là trước khi tòa án 
chưa bắt đầu công phán thuộc về tình lý việc 
kiện; b) Đơn phải nói đích xác cái duyên cớ xin 
cáo tị, mà phải đính theo giấy má làm chứng 
cứ; nếu có những giấy má nào viện làm chứng 
cứ mà người đương sự không có thể được tùy 
dụng thì phải kê ra.” 
Đơn cáo tị quan thẩm phán sơ cấp thì do 
chánh án tòa đệ nhị cấp thông trị cho quan thẩm 
phán bị cáo tị và sau khi tòa đệ nhị cấp đã nhận 
được tờ thuyết minh của quan bị cáo tị, cùng đã 
sức cho biện minh các lẽ rồi, sẽ chung thẩm sự 
cáo tị hữu lý hay là vô lý. Đơn cáo tị quan thẩm 
phán An nam ở tòa đệ nhị hay là đệ tam cấp, thì 
quan chánh tòa đệ tam cấp thông tri cho quan bị 
cáo tị để quan ấy là tờ thuyết minh, rồi tòa đệ 
tam cấp chọn một quan thẩm phán An nam ở 
ban khác hay là một quan trợ thẩm để làm bồi 
thẩm, và sức cho biện minh các lẽ, rồi sẽ chiếu 
lời kết luận của quan Chưởng lý mà chung thẩm 
việc cáo tị ấy hữu lý hay là vô lý. Bất cứ là ở đệ 
nhị cấp hay là đệ tam cấp, phàm thẩm việc cáo 
tị thì trước hết phải xét hỏi trong phòng nghị sự, 
rồi sau mới đem kết án trước phiên tòa công, 
trong án phải nói rõ lý do và ở chủ văn phải 
biên rằng: “xét ra sự cáo tị hữu lý hay là vô lý. 
Nếu đơn cáo tị xét ra là vô khả thụ lý hay là vô 
lý, thì người đương sự cáo tị phải bị xử phạt 
bạc: cáo tị quan thẩm phán sơ cấp thì phạt năm 
T.T. Hạnh / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 31, Số 2 (2015) 13-19 
18 
đồng bạc, cáo tị quan thẩm phán đệ nhị cấp thì 
phạt mười đồng bạc, cáo tị quan thẩm phán đệ 
tam cấp thì phạt hai mươi đồng bạc. Tòa án lại 
có thể tùy tình trạng mà xử người xin cáo tị 
phải bồi thường cho quan bị cáo tị; số bồi 
thường ấy do tòa án định. Nếu đơn cáo tị xét ra 
hữu lý thì quan Chưởng lý thông báo cho quan 
Nam án thủ hiến để khi có cần sẽ do quan Nam 
án thủ hiến thương đồng với quan Thống sự cử 
quan An nam khác tạm thay quan bị cáo tị. Khi 
nào quan hành chánh hay là quan tư pháp Đại 
Pháp sung làm quan chánh anh tòa đệ nhị cấp 
xin hồi tị hay là bị cáo tị, thì do tòa đệ tam cấp 
thẩm định, khong có quan an nam bồi thẩm, 
Tòa ấy sẽ cử một quan thẩm nghị trong ban thứ 
nhì, nếu không thì do quan viện – trưởng Tòa 
Thượng thẩm chọn một quan thẩm nghị khác để 
cho đủ số ba quan án mà thẩm định. Thủ tục 
cũng giống như thủ tục thi hành cho quan thẩm 
phán An nam. Nếu quan thẩm phán Đại Pháp 
xin hồi tị hay là bị cáo tị chính là quan chánh án 
hay là quan thẩm phán đệ tam cấp, thì thủ tục sẽ 
chiếu theo thể lệ trong luật Đại Pháp [5]. 
Như vậy, cũng như các qui phạm pháp luật 
khác, luật tố tụng hình sự thời kỳ Pháp thuộc là 
công cụ của nhà nước thực dân phong kiến để 
đàn áp giai cấp công nhân và nhân dân lao 
động. Nó bị ảnh hưởng và chịu sự chi phối của 
pháp luật tư sản Pháp, cho nên những qui định 
của luật tố tụng hình sự ở Việt Nam là sự sao 
chép luật tố tụng hình sự của Pháp. Chính vì 
vậy một số nguyên tắc dân chủ của pháp luật tư 
sản đã hiện diện trong pháp luật tố tụng hình sự 
Việt Nam thời kỳ này như: Phân định thẩm 
quyền rõ ràng giữa các cơ quan tiến hành tố 
tụng, trong đó tòa án là cơ quan đại diện cho 
quyền tư pháp, có chức năng xét xử nói chung 
và xét xử hình sự nói riêng, tòa án xét xử theo 
nguyên tắc độc lập, tính khách quan của quá 
trình giải quyết vụ án được coi trọng; Cơ quan 
công tố được hình thành và Viện công tố là một 
bộ phận của Tòa án có chức năng truy tố người 
phạm tội ra trước tòa án; Những hoạt động điều 
tra được giao cho cơ quan cảnh sát dưới sự chỉ 
đạo của cơ quan công tố. Các nguyên tắc độc 
lập tư pháp, nguyên tắc khách quan, công bằng 
trong hoạt động tố tụng hình sự, nguyên tắc bảo 
đảm sự vô tư của những người tiến hành tố 
tụng, quyền bào chữa của bị can, bị cáo đã 
được qui định. 
Tài liệu tham khảo 
[1] Phan Huy Lê, “Lê Thánh Tông 1442- 1479 con 
người và sự nghiệp”, NXB Đại học Quốc gia Hà 
Nội, 1997. 
[2] Quốc triều hình luật, NXB thành phố Hồ Chí 
Minh, năm 2003. 
[3] Bộ Tư pháp, Quốc triều hình luật, những giá trị 
lịch sử và đương đại góp phần xây dựng nhà nước 
pháp quyền ở Việt Nam, Viện khoa học pháp lý, 
NXB Tư pháp, 2008. 
[4] Hoàng Việt luật lệ, NXB Văn hóa – thông tin, Hà 
Nội, 1994. 
[5] Bắc kỳ Pháp viện biên chế năm 1921, 
Bibliothèque Le Van Phuc, Hà Nội, 1922. 
T.T. Hạnh / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 31, Số 2 (2015) 13-19 19 
Principle of the Equity Warranty of the Proceeding People 
 and Participants in Vietnam Criminal Procedure Code 
Issued by Feudal Government and French Colonial Authority 
Trần Thu Hạnh 
VNU School of Law, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hanoi, Vietnam 
Abstract: The equity warranty of the proceeding people and participants in criminal procedure 
code is one of the most important principles for ensuring that cases are judged objectively and justly. 
Hence, even in the feudal and French colonial periods, despite their historical limitations this principle 
was concerned and recognized. 
Keywords: Equity, criminal procedure, proceeding, rejection, change, basis. 

File đính kèm:

  • pdfnguyen_tac_bao_dam_su_vo_tu_cua_nguoi_tien_hanh_to_tung_va_n.pdf