Văn hóa giao tiếp trong thư viện một số trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Tóm tắt Văn hóa giao tiếp trong thư viện một số trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh: ...c về quy trình sử dụng thư viện. Kết quả là có gần 60% SV được khảo sát cho rằng mình biết rõ nội quy, quy định của thư viện, chỉ có 1,1% SV nói rằng mình hoàn toàn không biết đến những quy định nói trên. Song, với hơn 40% SV cho rằng mình chỉ biết đôi chút về nội quy của đơn vị cung ...ưa thật sự niềm nở, 4,3% cho rằng đồng nghiệp của mình thiếu trách nhiệm khi giao tiếp với SV. Nguyên nhân của tình trạng này là do CBTV bị ảnh hưởng bởi tâm lí không thoải mái, môi trường làm việc không thực sự thuận lợi, và như chúng tôi đã nêu trên, việc một số SV tỏ ra lúng túng ... văn hóa khác nhau. Trong quá trình phục vụ bạn đọc, có rất nhiều tình huống thực tế buộc CBTV phải biết ứng xử khéo léo sao cho hợp tình, hợp lí, phù hợp với môi trường của một cơ sở giáo dục, nhưng cũng không tạo ra những hệ quả đáng tiếc đối với SV. Để giúp CBTV rèn luyện kĩ năng ...

pdf7 trang | Chia sẻ: havih72 | Lượt xem: 254 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Văn hóa giao tiếp trong thư viện một số trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Mai Thị Thu 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
151 
VĂN HÓA GIAO TIẾP TRONG THƯ VIỆN 
MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC 
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 
MAI THỊ THU* 
TÓM TẮT 
Văn hóa giao tiếp (VHGT) trong môi trường thư viện đại học (TVĐH) đóng một vai 
trò quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ thân thiện với bạn đọc, nâng cao khả năng 
thu hút bạn đọc và chất lượng phục vụ của thư viện. Bài viết trình bày kết quả của việc tìm 
hiểu thực trạng VHGT giữa cán bộ thư viện (CBTV) và sinh viên (SV) tại một số TVĐH 
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM); trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp 
cho việc định hình một VHGT có hiệu quả tại TVĐH. 
Từ khóa: văn hóa giao tiếp, thư viện đại học. 
ABSTRACT 
Communication culture at a number of university libraries in Ho Chi Minh City 
Communication culture at university libraries plays an important role in building a 
friendly relationship between the library and readers, attracting more users as well as 
enhancing the quality of library service. The article presents results of the investigation 
into the reality of communication culture between librarians and students at a number of 
university libraries in Ho Chi Minh City; in light of which, solutions to forming an effective 
communication culture at university libraries. 
Keywords: communication culture, university library. 
* HVCH, Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG TPHCM; Email: maithu660@yahoo.com 
1. Đặt vấn đề 
Giao tiếp là một điều kiện không 
thể thiếu trong hoạt động của con người. 
Nhờ giao tiếp, con người duy trì và mở 
rộng hiểu biết của mình về thế giới xung 
quanh, và bằng cách đó, xã hội loài 
người có thể tồn tại và phát triển. Ở một 
bình diện mang tính cá nhân, có thể thấy 
rằng thông qua giao tiếp, tri thức và 
nhân cách của con người được hình 
thành và phát triển. 
Giao tiếp, ngày nay, đã trở thành 
một khoa học, dù nó mang một nội hàm 
thuần túy ngôn ngữ học, hay một khái 
niệm mang tính xã hội, vốn được biết đến 
dưới cái tên văn hóa giao tiếp. VHGT 
tiếp là một trong những yếu tố tham gia 
vào việc tạo dựng lối sống theo tiêu 
chuẩn chân - thiện - mĩ, có khả năng định 
hướng, điều chỉnh đời sống của mỗi cá 
nhân, gia đình, nhà trường, cộng đồng và 
cả xã hội. 
TVĐH là nơi cung cấp các dịch vụ 
thông tin nhằm thỏa mãn nhu cầu tin cho 
những bạn đọc là cán bộ giảng dạy, học 
viên cao học, SV, phục vụ công tác giáo 
dục, nghiên cứu, học tập của họ. VHGT 
trong thư viện vừa là vấn đề cấp bách, 
vừa có ý nghĩa lâu dài trong lĩnh vực giáo 
dục và hoạt động thư viện. VHGT giữa 
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 10(76) năm 2015 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
152 
CBTV và bạn đọc trong thư viện được 
thực hiện tốt sẽ góp phần không nhỏ vào 
việc xây dựng mối quan hệ thân thiện với 
bạn đọc, nâng cao chất lượng đào tạo cho 
nhà trường, đồng thời nâng cao chất 
lượng phục vụ của TVĐH. 
Trong bài viết này, chúng tôi đề cập 
thực trạng VHGT giữa cán CBTV và SV 
tại một số TVĐH trên địa bàn TPHCM; 
trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp 
cho việc định hình một VHGT có hiệu 
quả tại TVĐH. 
2. Thực trạng văn hóa giao tiếp 
trong thư viện một số trường đại học 
trên địa bàn TPHCM 
Để tìm hiểu thực trạng VHGT giữa 
CBTV và SV tại một số TVĐH trên địa 
bàn TPHCM, chúng tôi đã xây dựng hai 
loại bảng hỏi: dành cho SV đang sử dụng 
thư viện, và dành cho CBTV. 
Các trường tham gia trả lời khảo sát 
gồm Đại học Sư phạm TPHCM, Đại học 
Văn hóa TPHCM và Đại học Công 
nghiệp TPHCM. Tổng số phiếu phát ra 
cho SV của 3 trường là 300, số phiếu thu 
về là 285, trong đó có 3 phiếu không hợp 
lệ. Tổng số phiếu phát ra cho CBTV là 
50, số phiếu thu về là 47. 
Trước hết, chúng ta hãy xem xét 
nhận thức của SV về VHGT. 
2.1. Nhận thức về VHGT trong hoạt 
động thư viện 
2.1.1. Nhận thức của SV về VHGT 
Kết quả khảo sát cho thấy 90% SV 
quan tâm đến việc xây dựng VHGT, chỉ 
có 0,4% SV trả lời là không quan tâm 
đến vấn đề này. Như vậy, tuyệt đại đa số 
SV nhận thức được vai trò quan trọng của 
việc giao tiếp có văn hóa, và đây là điều 
kiện thuận lợi giúp SV hình thành cho 
mình VHGT ngay từ khi còn ngồi trên 
ghế nhà trường. 
2.1.2. Nhận thức của CBTV về VHGT 
Số liệu thống kê cho thấy 100% 
CBTV đánh giá VHGT là quan trọng và 
rất quan trọng. Nói cách khác, CBTV đã 
nhận thức được rằng để làm tốt công tác 
phục vụ trong thư viện, bên cạnh việc 
nắm vững kiến thức về chuyên môn 
nghiệp vụ, họ còn phải có VHGT. 
2.2. Biểu hiện về VHGT trong TVĐH 
2.2.1. Biểu hiện của SV về VHGT trong 
TVĐH 
Trong môi trường đại học nói 
chung và môi trường thư viện nói riêng, 
việc SV chấp hành những quy định của 
nhà trường và thư viện là một trong 
những nhiệm vụ quan trọng để rèn luyện 
tính tổ chức, tính kỉ luật, đồng thời tạo 
nên nét sinh hoạt văn hóa riêng của nhà 
trường. Biểu hiện của SV về mức độ biết 
về nội quy của thư viện như sau (xem 
bảng 1). 
Bảng 1. Biểu hiện của SV về mức độ biết nội quy của thư viện 
STT Mức độ Tần số Tỉ lệ % 
1 Biết rõ 166 58,9 
2 Biết đôi chút 113 40,1 
3 Hoàn toàn không biết 3 1,1 
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Mai Thị Thu 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
153 
Trong những năm gần đây, các thư 
viện rất chú trọng đến việc giới thiệu và 
hướng dẫn cho SV mới nhập học về quy 
trình sử dụng thư viện. Kết quả là có gần 
60% SV được khảo sát cho rằng mình 
biết rõ nội quy, quy định của thư viện, 
chỉ có 1,1% SV nói rằng mình hoàn toàn 
không biết đến những quy định nói trên. 
Song, với hơn 40% SV cho rằng mình chỉ 
biết đôi chút về nội quy của đơn vị cung 
cấp thông tin thì đây là một thực tế đáng 
để chúng ta suy ngẫm. 
2.2.2. Biểu hiện của CBTV về VHGT 
trong TVĐH (xem bảng 2) 
CBTV là những người cần phải chú 
ý phẩm chất, năng lực, đặc biệt là ứng xử 
của bản thân mình đối với SV. Khảo sát 
về biểu hiện trong trang phục của CBTV 
khi giao tiếp với SV, có gần 96% CBTV 
cho rằng đồng nghiệp của mình ăn mặc 
gọn gàng, lịch sự khi giao tiếp với SV, 
2% CBTV nhận định đồng nghiệp của 
mình ăn mặc bình thường và 2% CBTV 
đánh giá trang phục của đồng nghiệp khi 
giao tiếp với SV là lòe loẹt hay luộm 
thuộm. 
Bảng 2. Nhận xét về phong cách, thái độ phục vụ của CBTV đối với SV 
STT Biểu hiện Tần số Tỉ lệ % 
1 Nhanh nhẹn, nhiệt tình 38 80,8 
2 Thờ ơ 0 0 
3 Gắt gỏng, hống hách 2 4,3 
4 Bình thường 7 14,9 
Bảng 2 cho thấy có hơn 80% CBTV 
đánh giá đồng nghiệp của mình có phong 
cách nhanh nhẹn, nhiệt tình khi phục vụ. 
Bên cạnh đó cũng có gần 15% CBTV cho 
rằng phong cách phục vụ của họ chỉ ở 
mức độ trung bình và 4,3% cho rằng 
đồng nghiệp của mình còn gắt gỏng, 
hống hách khi phục vụ SV. Nguyên nhân 
của hiện tượng này một phần do bản thân 
cá nhân cán bộ đó ngại va chạm, thiếu 
cởi mở, ý thức trách nhiệm trong công 
việc chưa cao..., một phần do áp lực công 
việc, môi trường làm việc chật hẹp, nóng 
bức, cách diễn đạt của SV khó hiểu, hay 
thái độ thiếu tôn trọng của họ đối với 
CBTV. 
2.3. Đánh giá của SV về VHGT đối với 
CBTV 
Qua tìm hiểu về đánh giá của SV về 
VHGT giữa SV với CBTV hiện nay, 
chúng tôi thu được kết quả như sau: 55% 
SV cho rằng VHGT giữa CBTV và SV ở 
mức độ bình thường, chỉ có hơn 30% cho 
rằng VHGT giữa CBTV với SV là tốt, 
9,6% cho rằng điểm này chưa được tốt. 
Đáng lưu ý, vẫn còn 0,4% SV đưa ra 
đánh giá “rất không tốt”. 
Một số SV cho rằng việc giao tiếp 
trong thư viện là bị hạn chế, chính vì vậy 
các kỹ năng giao tiếp của SV trong môi 
trường thư viện khó có cơ hội được hoàn 
thiện. Đa số SV thường giao tiếp với bạn 
bè trong thư viện và chủ yếu xoay quanh 
vấn đề học tập. Đối với CBTV thì các em 
còn tỏ ra ngần ngại, ít trao đổi. Chỉ một 
số SV có khó khăn trong việc tìm tài liệu 
mới nhờ đến sự giúp đỡ của CBTV. 
Quan sát thái độ ứng xử của SV với 
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 10(76) năm 2015 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
154 
CBTV, chúng tôi nhận thấy còn một bộ 
phận không nhỏ SV chưa xác định được 
vai trò của CBTV trong việc tư vấn, 
hướng dẫn, cung cấp thông tin, tài liệu 
cho SV khi đến học tập và nghiên cứu tại 
thư viện. Cá biệt, có SV cho rằng CBTV 
là người không trực tiếp giảng dạy họ, 
không có công trong việc giáo dục họ, vì 
vậy, trong giao tiếp, một số em còn thiếu 
tác phong lễ phép, thái độ tôn trọng đối 
với CBTV. 
2.4. Đánh giá về thái độ của CBTV khi 
giao tiếp với SV (xem bảng 3) 
Bảng 3. Đánh giá về thái độ của CBTV khi giao tiếp với SV 
STT Biểu hiện thái độ Tần số Tỉ lệ % 
1 Lạnh nhạt, hờ hững 0 0 
2 Thiếu trách nhiệm 2 4,3 
3 Niềm nở, thân thiện 37 78,7 
4 Chưa thật sự niềm nở 8 17,0 
Bảng 3 cho thấy gần 80% CBTV 
cho rằng đồng nghiệp của mình có thái 
độ niềm nở và thân thiện khi giao tiếp với 
SV. Đây là một chỉ số tích cực thể hiện 
tinh thần trách nhiệm đối với công việc 
của nhiều CBTV. Nhưng bên cạnh đó, có 
đến 17% CBTV cho rằng đồng nghiệp 
của mình có thái độ chưa thật sự niềm nở, 
4,3% cho rằng đồng nghiệp của mình 
thiếu trách nhiệm khi giao tiếp với SV. 
Nguyên nhân của tình trạng này là do 
CBTV bị ảnh hưởng bởi tâm lí không 
thoải mái, môi trường làm việc không 
thực sự thuận lợi, và như chúng tôi đã 
nêu trên, việc một số SV tỏ ra lúng túng 
trong diễn đạt cũng phần nào làm ảnh 
hưởng đến giao tiếp của CBTV. Ngoài 
các yếu tố ảnh hưởng nêu trên, còn một 
nguyên nhân chủ quan khiến cho hiệu 
quả giao tiếp của CBTV với SV không 
được như mong muốn, đó là việc CBTV 
thường xuyên bị phân tán bởi các hoạt 
động khác khi làm việc với SV. 
3. Một số giải pháp nâng cao VHGT 
trong môi trường thư viện đại học 
3.1. Xây dựng môi trường văn hóa 
trong các trường đại học 
3.1.1. Tăng cường giáo dục ý thức, thái 
độ của SV đối với việc rèn luyện VHGT 
trong trường đại học 
Để xây dựng chuẩn mực về hành vi 
giao tiếp trong trường học nói chung và 
trong môi trường thư viện nói riêng, nhà 
trường phải lồng ghép nội dung trên vào 
chương trình giảng dạy, đồng thời xây 
dựng những quy định về giao tiếp giữa 
giảng viên, SV, cán bộ và nhân viên. Qua 
lớp sinh hoạt chính trị đầu năm, cũng như 
các buổi sinh hoạt lớp, giáo viên chủ 
nhiệm cần phổ biến những quy định về 
cách thức tham gia các hoạt động học 
tập, lao động, văn hóa văn nghệ, thể dục 
thể thao, trong đó có cách thức diễn đạt 
bằng ngôn từ. Khen ngợi và tuyên dương 
những hành vi đẹp của SV cũng là một 
biện có pháp hiệu quả để những hoạt 
động nói trên đạt được mục tiêu đề ra. 
3.1.2. Xây dựng các chuẩn mực VHGT 
trong môi trường thư viện 
 Đối với CBTV 
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Mai Thị Thu 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
155 
Mỗi thư viện phải xây dựng một hệ 
thống chuẩn mực cho giao tiếp với những 
quy tắc cụ thể, được phổ biến đến từng 
CBTV. Như một hệ giá trị, những chuẩn 
mực đó là căn cứ cho việc đánh giá xếp 
loại thi đua đối với mỗi cá nhân vào dịp 
tổng kết năm học. CBTV cần nhận thức 
rằng phục vụ bạn đọc là trách nhiệm của 
mình, vì vậy cần phải tôn trọng bạn đọc, 
cung cấp cho họ những thông tin cần 
thiết, cố gắng đến mức cao nhất để đáp 
ứng những yêu cầu của họ, và nhiệm vụ 
đó trước hết phải được thực hiện qua 
VHGT. 
Về tư thế và tác phong: CBTV phải 
có trang phục phải sạch sẽ, không nhàu 
nát; ngồi ở vị trí làm việc phải nghiêm 
chỉnh, đĩnh đạc. 
Về ngôn ngữ giao tiếp: phải thể 
hiện sự chân thành, khiêm tốn. Ngôn ngữ 
sử dụng cần có dung lượng vừa phải, ngữ 
âm dễ nghe, từ ngữ mềm dẻo, tinh tế. Khi 
muốn nhắc nhở và khuyên bảo bạn đọc, 
CBTV phải có thái độ nhã nhặn và chân 
tình. Khi bạn đọc vi phạm nội quy thư 
viện, cần phải kiên trì, không có thái độ 
gay gắt. Ngay cả với những người cố tình 
vi phạm, CBTV cũng cần điềm tĩnh, 
không đối xử với họ một cách thô bạo. 
 Đối với SV 
Xây dựng VHGT trong thư viện 
không chỉ là nhiệm vụ của đội ngũ CBTV 
và đội ngũ cán bộ, giảng viên trong nhà 
trường, mà còn là nhiệm vụ của bản thân 
mỗi SV. SV khi đến với thư viện là đến 
với môi trường văn hóa, do vậy trong 
giao tiếp cần thể hiện một tác phong phù 
hợp. Với người lớn tuổi, các em nên có 
thái độ lễ phép, kính trên nhường dưới, 
với thầy cô phải biết “tôn sư trọng đạo”, 
thực hiện nghiêm túc các quy định của 
thư viện, tôn trọng CBTV và những 
người xung quanh, không đùa giỡn trong 
môi trường làm việc. 
3.2. Rèn luyện VHGT trong thư viện 
đại học 
Cần tổ chức rèn luyện các kĩ năng 
giao tiếp cho CBTV thông qua các tình 
huống thường gặp trong thực tiễn. Bạn 
đọc của TVĐH đến từ các vùng miền 
khác nhau và chịu ảnh hưởng của những 
đặc điểm văn hóa khác nhau. Trong quá 
trình phục vụ bạn đọc, có rất nhiều tình 
huống thực tế buộc CBTV phải biết ứng 
xử khéo léo sao cho hợp tình, hợp lí, phù 
hợp với môi trường của một cơ sở giáo 
dục, nhưng cũng không tạo ra những hệ 
quả đáng tiếc đối với SV. 
Để giúp CBTV rèn luyện kĩ năng 
giao tiếp tốt khi tiếp xúc với bạn đọc, nhà 
trường cần tổ chức các lớp tập huấn 
chuyên đề về VHGT cho CBTV và SV. 
Về phía thư viện, cần tổ chức giao lưu, 
học tập, trao đổi kinh nghiệm với các thư 
viện bạn, đồng thời phát động phong trào 
thi đua trong toàn thư viện, với nội dung 
xây dựng cơ quan văn minh, hiện đại, có 
văn hóa trong giao tiếp, có phong cách 
phục vụ tận tình, tạo dựng được thương 
hiệu cho đơn vị của mình. 
Bên cạnh đó, thư viện cần tổ chức 
các buổi báo cáo, nói chuyện chuyên đề 
về VHGT trong thư viện nói riêng và 
ngoài xã hội nói chung. Để làm tốt hoạt 
động này, thư viện có thể phối hợp với 
các khoa, Đoàn Thanh niên, Hội SV để 
mời chuyên gia thuyết trình và tư vấn cho 
SV. 
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 10(76) năm 2015 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
156 
3.3. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của 
các lực lượng giáo dục trong nhà 
trường 
Giáo dục VHGT cho SV không chỉ 
là trách nhiệm của một đơn vị riêng lẻ mà 
trách nhiệm và sức mạnh của nhiều đơn 
vị cùng phối hợp. Là những người trực 
tiếp giảng dạy và giáo dục SV, thông qua 
việc truyền đạt tri thức từ các môn học, 
giáo viên cần khai thác, vận dụng tri thức 
thuộc lĩnh vực khoa học mình dạy để góp 
phần hình thành ở các em không chỉ là 
nhận thức đúng đắn về khoa học mà còn 
cả tác phong của những người làm khoa 
học. 
Phòng Công tác chính trị và quản lí 
học sinh SV, với chức năng quản lí, giáo 
dục SV, cần phát huy vai trò của mình 
trong việc theo dõi nền nếp sinh hoạt của 
SV trong giờ học, có biện pháp ngăn 
chặn và giáo dục kịp thời những trường 
hợp vi phạm nội quy của nhà trường, đưa 
ra những tiêu chí xếp loại cụ thể để cá 
nhân và tập thể biết tự đánh giá, qua đó 
có ý thức hơn trong việc rèn luyện hành 
vi của mình. 
Đoàn Thanh niên, Hội SV là nơi 
thu hút sự tham gia của đông đảo đoàn 
viên. Thông qua các tổ chức Đoàn, Hội, 
SV có điều kiện tham gia các hoạt động 
có ý nghĩa; do đó, Đoàn Thanh niên, Hội 
SV cần chỉ đạo, hướng dẫn các Đoàn 
khoa tổ chức các hoạt động VHGT để có 
thể theo dõi, giáo dục thái độ của đoàn 
viên khi tham gia các hoạt động nói trên. 
3.4. Cải thiện môi trường hoạt động 
thư viện đại học 
Cơ sở vật chất, trang thiết bị kĩ 
thuật là điều kiện không thể thiếu và là 
tiêu chí quan trọng để khẳng định vị thế 
của nhà trường nói chung và thư viện nói 
riêng. Một thư viện khang trang, sạch 
đẹp, trang thiết bị hiện đại, không khí 
trang trọng và nghiêm túc sẽ tạo điều 
kiện thuận lợi để thu hút bạn đọc đến với 
thư viện, và đó cũng chính là những yếu 
tố thuận lợi cho việc xây dựng một phong 
cách giao tiếp đúng đắn. 
4. Kết luận 
VHGT từ lâu đã trở thành một vấn 
đề được nhiều người quan tâm. Ngày 
nay, trong nhà trường nói chung và trong 
thư viện nói riêng, việc xây dựng VHGT 
ngày càng có ý nghĩa và tầm quan trọng 
đặc biệt, vì nó góp phần xây dựng mối 
quan hệ tốt đẹp trong các hoạt động của 
nhà trường, góp phần vào việc hình thành 
nhân cách, rèn luyện phẩm chất đạo đức 
cho SV. 
Xây dựng VHGT trong TVĐH là 
xây dựng lề lối, nền nếp làm việc khoa 
học, có trật tự kỉ cương, tuân theo những 
nội quy, quy định chung, đồng thời góp 
phần tạo dựng niềm tin, tạo bầu không 
khí cởi mở, thân thiện, hình thành những 
thói quen, phương cách ứng xử lịch sự, 
giúp nâng cao chất lượng phục vụ của 
thư viện. 
Để nâng cao tính hiệu quả của quá 
trình giao tiếp trong thư viện, đối với 
CBTV và SV, đều phải không ngừng 
nâng cao nhận thức, thái độ về cách ứng 
xử có văn hóa với người khác, rèn luyện 
kĩ năng giao tiếp, nỗ lực trau dồi những 
kiến thức và kinh nghiệm trong cuộc 
sống, hướng tới mục đích xây dựng nếp 
sống văn hóa, văn minh trong môi trường 
đại học. 
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Mai Thị Thu 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
157 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2008), Quy tắc ứng xử của cán bộ, công 
chức, viên chức ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Ban hành theo Quyết định số 
61/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 31/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du 
lịch). 
2. Lê Quỳnh Chi, Phạm Thị Hiền Hoa (2012), “Xây dựng văn hóa giao tiếp giữa cán bộ 
thư viện và sinh viên trong môi trường thư viện đại học góp phần hình thành kĩ năng 
mềm cho sinh viên”, Kỉ yếu Hội thảo khoa học “Thực trạng kĩ năng mềm của sinh 
viên đại học sư phạm hiện nay”, Khoa Tâm lí Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm 
TPHCM. 
3. Hoàng Thị Lệ Hà (2009), Văn hóa giao tiếp trong hoạt động tiếp dân của cán bộ, 
công chức: (trường hợp tỉnh Khánh Hòa), Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa 
học Xã hội và Nhân văn TPHCM. 
4. Nguyễn Khắc Hùng (chủ biên) (2011), Văn hóa và văn hóa học đường, Nxb Thanh 
niên, Hà Nội. 
5. Huỳnh Văn Sơn (chủ biên) (2011), Tâm lí học giao tiếp, Nxb Đại học Sư phạm 
TPHCM. 
6. Viện Nghiên cứu giáo dục, Trung tâm Phát triển nghiệp vụ sư phạm, Trường Đại học 
Sư phạm TPHCM (2009), Kỉ yếu Hội thảo Giáo dục văn hóa giao tiếp trong nhà 
trường. 
(Ngày Tòa soạn nhận được bài: 23-6-2015; ngày phản biện đánh giá: 29-7-2015; 
ngày chấp nhận đăng: 20-10-2015) 

File đính kèm:

  • pdfvan_hoa_giao_tiep_trong_thu_vien_mot_so_truong_dai_hoc_tren.pdf